Chuyen.AIPlaylist
Hàn Quốc

Haenyeo, những người mẹ lặn biển đảo Jeju

0:000:00

Một tiếng huýt dài vang lên trên mặt nước.

Không phải tiếng chim. Nó cao, mảnh, kéo ra một nhịp rồi tắt dần, nghe như ai đó vừa dốc sạch hơi trong lồng ngực mình ra ngoài. Vài giây sau, một tiếng nữa cất lên, cách chỗ cũ chừng chục mét. Rồi một tiếng nữa, xa hơn. Rồi ba bốn tiếng cùng lúc, từ những hướng khác nhau, rải khắp mặt vịnh như thể cả vùng nước ấy đang thở.

Nhìn kỹ ra ngoài kia thì chỉ thấy mấy quả cầu tròn màu cam nổi lập lờ. Và cạnh mỗi quả cầu là một cái đầu người vừa nhô lên.

Tiếng huýt ấy có tên riêng. Người ta gọi nó là sumbisori. Đó là hơi thở ra của một người vừa từ đáy biển ngoi lên sau khi nín thở, đẩy hết khí cũ ra thật nhanh để kịp lấy khí mới vào. Nghe một lần thôi thì cả nhà sẽ không lẫn nó với bất cứ âm thanh nào khác. Chuyện này xảy ra mỗi sáng dọc bờ đảo Jeju của Hàn Quốc, và những người tạo ra nó được gọi là haenyeo, tiếng Hàn có nghĩa là người phụ nữ lặn biển.

Việc họ làm, nói gọn lại thì chỉ có ba động tác: xuống nước, gỡ lấy thứ nằm dưới đáy, rồi ngoi lên. Chỉ có ba động tác ấy thôi mà phải học gần như cả một đời.

Một haenyeo xuống sâu khoảng mười mét. Không bình dưỡng khí, không ống thở, không có gì ngoài hơi thở của chính mình. Trung bình mỗi lần xuống, họ giữ hơi chừng một phút. Xuống, tìm, gỡ, lên. Rồi lại xuống. Ngày làm nhiều thì tới bảy tiếng ngâm mình dưới nước, và một năm có khoảng chín mươi ngày ra biển như vậy. Thứ họ mang lên là bào ngư, ốc, nhím biển, bạch tuộc, hải sâm và đủ loại rong.

Có một điều cần nói thẳng ngay ở đây, vì nó quan trọng hơn mọi chi tiết ly kỳ trong câu chuyện này. Đây không phải trò chơi, và không phải ai thích cũng làm được. Nước lạnh, dòng chảy mạnh, đáy biển đầy đá sắc. Người theo nghề học từ khi còn trẻ rồi học tiếp suốt đời, luôn đi thành nhóm để có người trông chừng nhau, và không bao giờ có chuyện một mình xuống nước. Trẻ con tuyệt đối không được tự thử nín thở lặn xuống, dù chỉ ở chỗ nông ngang đầu gối. Quy tắc này không có ngoại lệ nào cả.

Bây giờ thử nhìn kỹ đồ nghề của họ.

Quả cầu cam nổi ngoài kia gọi là tewak. Ngày xưa nó là một quả bầu khô khoét ruột. Từ giữa những năm sáu mươi của thế kỷ trước, người ta chuyển sang dùng xốp cho nhẹ. Treo lủng lẳng bên dưới tewak là mangsari, cái túi lưới đựng tất cả những gì lấy được. Trong tay mỗi người là một thanh sắt dẹt tên là bitchang, dùng để nạy con bào ngư bám chặt vào đá, cùng một lưỡi liềm nhỏ để cắt rong. Còn kính lặn thì haenyeo đã đeo hơn một trăm năm nay rồi.

Bộ đồ lặn cao su chỉ đến với họ vào đầu thập niên bảy mươi, đưa về từ Nhật Bản. Trước đó, họ xuống biển trong bộ quần áo vải bông. Và từ năm hai nghìn mười hai, đồ lặn của haenyeo chuyển hẳn sang màu cam, để từ trong bờ hay từ trên thuyền, người ta nhìn ra là thấy ngay giữa mặt nước xám.

Trên bờ, chỗ quan trọng nhất của họ không phải bến thuyền. Đó là một vòng tường đá thấp gọi là bulteok, giữa có chỗ đốt lửa. Ở đó các bà thay đồ, hơ cho ấm lại người sau khi lên bờ, ăn miếng gì đó lấy sức. Và cũng chính ở đó, người đi trước nói cho người đi sau nghe những thứ không sách vở nào chép. Hôm nay con nước chảy về hướng nào, tảng đá nào có hốc, vạt đáy nào nên để yên cho nó nghỉ, giữ sức ra sao để lặn hết buổi mà chân vẫn còn khỏe.

Nghề này có thứ bậc hẳn hoi, và không ai nhảy cóc được bậc nào.

Người mới vào nghề gọi là hagun. Người ta ở bậc ấy rất lâu, hết mùa này sang mùa khác. Qua nhiều năm, người ấy lên bậc junggun. Trên cùng là sanggun, bậc của những người theo nghề lâu năm nhất. Nhưng thứ làm nên một sanggun không phải là lặn giỏi hơn ai. Bổn phận của sanggun là chỉ bảo cho những người còn lại trong nhóm.

Còn một luật nữa mà cả nhóm giữ rất chặt: không lấy hết.

Con ốc chưa đủ bảy phân thì thả xuống lại cho nó lớn. Mùa sinh sản thì không ai đụng tới. Không máy móc, không khí nén, chỉ có hơi thở, bởi một lá phổi thì có giới hạn còn một cái máy thì không. Vùng biển ngay trước mặt làng là quyền khai thác của hội nghề cá của chính làng ấy, cho nên giữ cho đáy biển còn đầy vào sang năm không phải một lời khuyên tử tế, mà là chuyện cơm áo của nhà mình.

Trước những chuyến quan trọng, các bà làm lễ jamsugut, khấn nữ thần biển xin cho người bình an và cái mangsari nặng tay.

Nghề đi theo một con đường rất riêng: mẹ truyền cho con gái, mẹ chồng truyền cho con dâu. Bây giờ trên đảo còn có hẳn một ngôi trường dạy nghề haenyeo và một bảo tàng của riêng họ. Năm hai nghìn mười sáu, UNESCO ghi văn hóa haenyeo đảo Jeju vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Và trong số những người sáng nào cũng mặc đồ lặn ra biển, có những bà đã ở tuổi tám mươi.

Không ai trong số họ kể về nghề mình bằng giọng than thở. Họ nói về vùng biển trước mặt đúng như người nông dân nói về thửa ruộng nhà mình: chỗ làm ăn của mình, thuộc tới từng hòn đá nằm dưới đó.

Ở mình cũng vậy thôi, dọc bờ biển vẫn có những bà những mẹ lặn xuống mò ốc bắt sò rồi ngoi lên thở một hơi thật dài, chỉ khác là tiếng thở ấy chưa được đặt cho một cái tên.

Sáng ra, cả nhóm đứng trên bờ đá, sắp sửa cùng nhau xuống nước. Trước khi đi, người lớn tuổi nhất quay sang người trẻ nhất trong nhóm, dặn đúng một câu, câu mà đời nào cũng dặn lại cho đời sau: xuống được bao lâu thì chỉ ở bấy nhiêu, còn hơi thì phải lên, đừng tham.

Câu chuyện gần đây