Chuyen.AIPlaylist
Hà Nội

Phố Hàng Bạc

0:000:00

Người thợ bạc trên phố Hàng Bạc làm việc trong một gian nhà mà mặt tiền nhiều khi chỉ rộng chừng hai mét. Ngôi nhà hình ống, kéo dài sâu hút vào trong, mái ngói nghiêng ra mặt phố. Ông ngồi cúi xuống chiếc đe nhỏ, tay cầm búa con, gõ từng nhịp lanh canh lên mặt bạc.

Ngoài kia, phố đã khác xưa nhiều. Cửa hàng vàng bạc nối nhau suốt chiều dài con phố, chừng nửa cây số, và phần lớn món trang sức nay được làm bằng máy. Người còn chạm bạc bằng tay như ông chẳng còn bao nhiêu. Trong ba mươi sáu phố phường, Hàng Bạc là một trong số ít phố còn giữ đúng cái nghề đã đặt tên cho mình. Mỗi khi tiếng búa con vang lên, câu chuyện của con phố lại như được kể tiếp, một câu chuyện bắt đầu từ hơn năm trăm năm trước, ở một ngôi làng xa kinh thành.

Nửa sau thế kỷ mười lăm, dưới triều vua Lê Thánh Tông, có một vị quan người làng Châu Khê, đất Hải Dương thuở ấy. Ông tên là Lưu Xuân Tín, giữ chức Thượng thư bộ Lại. Triều Lê giao cho ông việc lập xưởng đúc bạc nén ngay tại kinh thành Thăng Long. Và ông đưa những người thợ kim hoàn của làng mình theo lên kinh.

Hãy hình dung một người thợ trẻ trong đoàn người ấy. Anh rời lũy tre làng, mang theo đôi bàn tay đã quen với lửa và kim loại. Ở kinh thành, anh vào làm ở tràng, nơi chuyên nấu bạc rồi đúc thành từng nén. Chỗ tràng ngày ấy nay là ngôi nhà số năm mươi tám trên phố. Bạc đúc xong được đưa sang đình, nơi phường thợ nhận nguyên liệu và nộp thành phẩm cho viên quan của triều đình.

Rồi thợ ở những làng nghề khác cũng tìm về. Thợ làng Định Công, nay thuộc Hà Nội, và thợ làng Đồng Xâm bên đất Thái Bình xưa, đến lập nghiệp bên cạnh thợ Châu Khê. Thợ Định Công tụ ở đoạn phía tây con phố. Họ làm khuyên vàng, xà tích bạc, vòng xuyến, và cả những chiếc khánh bạc, vòng bạc nhỏ xinh cho trẻ con đeo.

Thế là con phố có ba nghề song song. Nghề đúc bạc nén. Nghề làm đồ kim hoàn. Và nghề đổi tiền. Năm một nghìn tám trăm tám mươi sáu, một người Pháp đi qua đây còn tả lại những người đổi bạc ngồi xếp bằng trên sập trong cửa hàng. Họ cũng chính là những người thợ đúc bạc. Thời Pháp thuộc, con đường mang tên Rue des Changeurs, nghĩa là phố của những người đổi bạc.

Nhưng đầu thế kỷ mười chín, dưới triều Nguyễn, xưởng đúc bạc nén của triều đình chuyển vào kinh thành Huế. Phần lớn thợ Châu Khê thì không đi. Họ ở lại Thăng Long, giữ lấy nghề kim hoàn, lập nên phường thợ ngay trên phố Hàng Bạc. Nghề đúc bạc nén nay không còn trên phố, nhưng nghề kim hoàn thì được con cháu truyền cho nhau, đời này sang đời khác.

Nơi những người thợ ấy gửi gắm lòng mình là đình Kim Ngân, ở số bốn mươi hai Hàng Bạc. Đình dựng từ thời Hậu Lê, khoảng cuối thế kỷ mười lăm, đầu thế kỷ mười sáu, do chính người làng Châu Khê lên kinh lập nên. Kim là vàng, Ngân là bạc. Đình xây theo kiểu chữ Công, đại đình ba gian, hậu cung ba gian. Bên trong còn giữ được một số cột gỗ lim cổ, điều hiếm thấy khi nhiều ngôi đình phố cổ đã thay cột mới.

Trong đình, những người thợ bạc thờ Hiên Viên, vị mà người xưa tôn là ông tổ bách nghệ, tức tổ của trăm nghề. Hiên Viên là nhân vật của truyền thuyết phương Đông, được người thợ nhiều đời kính cẩn khói hương. Dưới mái đình, phường thợ tụ họp, tế lễ tổ nghề, và truyền dạy đạo nghề cho lớp thợ trẻ.

Ngôi đình đã sống qua nhiều đời người. Thời vua Gia Long, dân phường mua thêm đất để mở rộng đình. Có những năm tháng, đình còn là lớp học dạy chữ quốc ngữ. Sau năm một nghìn chín trăm năm mươi tư, nhiều hộ dân đến nương nhờ cửa đình, gian thờ bị thu hẹp và ngôi đình hư hại nặng.

Những năm hai nghìn lẻ bốn, hai nghìn lẻ năm, các chuyên gia Việt Nam và Pháp cùng nhau khảo sát, tìm cách cứu ngôi đình. Năm hai nghìn lẻ chín, các hộ dân được chuyển đi nơi khác, đình được tu bổ, mặt bằng nới rộng tới khoảng năm trăm bảy mươi lăm mét vuông. Đó là một trong những ngôi đình rộng nhất khu phố cổ. Sáng ngày hai mươi sáu tháng ba năm hai nghìn mười một, đình Kim Ngân mở cửa đón mọi người trở lại. Tháng mười năm hai nghìn mười hai, đình được công nhận là Di tích quốc gia.

Bây giờ, mình quay lại chiếc đe nhỏ của người thợ bạc. Những món đồ trên phố chia làm hai loại. Đồ trơn thì để mặt bạc nhẵn, không hoa văn. Đồ chạm thì phủ kín những nét chìm, nét nổi. Đề tài quen thuộc nhất là Tứ linh, bốn con vật linh: long, ly, quy, phượng. Có khi là đôi rồng chầu mặt trăng, gọi là Lưỡng long chầu nguyệt.

Trên mâm, trên đĩa vàng bạc, người thợ chạm Bát bảo, tám món đồ quý. Có khi lại là trúc, mai, lan, cúc, bốn loài cây tượng trưng cho phẩm chất người quân tử. Mỗi vảy rồng, mỗi cánh hoa là một lần búa con gõ xuống, chậm rãi và đều tay. Cái đẹp của đồ bạc Hàng Bạc nằm ở hai điều: dáng món đồ thật nghệ thuật, và đường chạm thật tinh xảo, sinh động.

Chiều xuống, phố Hàng Bạc vẫn đông người qua lại. Những ngôi nhà nhỏ, mái ngói cũ ở đây từng đi vào tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái. Ngày rằm, mồng một âm lịch, người trên phố vẫn vào đình Kim Ngân thắp hương tổ nghề. Vào những tối cuối tuần, đình lại vang tiếng hát ca trù.

Tiếng phách ca trù vọng ra từ cửa đình, hòa với tiếng búa con gõ đều trong gian nhà hẹp. Người thợ vẫn cúi xuống chiếc đe nhỏ của mình. Hơn năm trăm năm sau ngày những người thợ Châu Khê đầu tiên lên kinh, nhịp búa ấy vẫn chưa dứt. Từng tiếng lanh canh nhỏ rơi xuống mặt bạc, như con phố đang kể tiếp câu chuyện của mình.

Câu chuyện gần đây