Chuyen.AIPlaylist
Hà Nội

Phố Hàng Đào

0:000:00

Thế kỷ mười lăm, khi viết sách Dư địa chí, Nguyễn Trãi ghi lại một phường ở kinh thành với nghề nhuộm điều. Thợ trong phường nhuộm tơ thành màu đỏ, màu hồng, và cả màu hoa đào. Mấy trăm năm trôi qua, khúc đất của phường nhuộm ấy là một con phố giữa lòng Hà Nội, phố Hàng Đào.

Con phố ấy ngắn thôi, dài chừng hai trăm sáu mươi mét, rộng tám mét. Một đầu phố nối với Hàng Ngang, đầu kia chạm tới đầu phố Cầu Gỗ và Hàng Gai, sát quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục bên Hồ Gươm. Vậy mà theo chân sắc đỏ của thợ nhuộm, con phố ngắn ấy dẫn ngược về những ngày rất xa của đất kinh kỳ.

Phần đông những người làm nên sắc đỏ ấy đến từ làng Đan Loan, đất Hải Dương xưa. Vào khoảng thế kỷ mười bốn, mười lăm, họ ra kinh thành, dựng nhà, lập nên phường Đại Lợi. Nghề nhuộm tơ lụa của họ có từ thời Trần, thời Hồ, rồi sang thời Lê thì phát đạt. Phường Đại Lợi và phường Đồng Lạc bên cạnh cùng thuộc huyện Thọ Xương xưa.

Từ màu hoa đào trên những tấm tơ ấy, cái tên Hàng Đào cứ thế bám vào con phố, như màu nhuộm thấm vào sợi tơ, giặt mãi không phai.

Ngày ấy, con phố trông khác hẳn bây giờ. Phía sau dãy nhà số lẻ là một mặt hồ rộng, gọi là hồ Thái Cực, có khi gọi là hồ Hàng Đào. Hồ thông ra Hồ Gươm bằng một con lạch, đúng chỗ phố Cầu Gỗ hôm nay. Bắc qua con lạch là một chiếc cầu gỗ, và tên phố Cầu Gỗ có từ đó. Hàng Đào khi ấy nằm trên một dải đất ngăn giữa hai mặt nước. Rồi vào khoảng giữa thế kỷ mười chín, hồ bị lấp đi để lấy đất làm nhà.

Người Đan Loan đi xa nhưng không quên quê. Họ dựng một ngôi đình để thờ thành hoàng làng mình, cũng là tổ nghề nhuộm: ông Triệu Xương và vợ là bà Phương Dung. Đó là đình Hoa Lộc, ở số chín mươi A phố Hàng Đào. Trong đình còn một tấm bia đá ghi năm dựng đình, năm một nghìn bảy trăm lẻ sáu. Dọc phố còn những nơi thờ tự khác: miếu Đồng Lạc, đình Đồng Lạc, và đền Bạch Bố thờ thần Bạch Mã.

Nhưng lụa đỏ không đi một mình. Ngày trước, ngay trên phố có chợ Hàng Tơ, mỗi tháng họp sáu phiên. Đến phiên chợ, người thợ dệt, thợ nhuộm từ các làng quanh kinh thành kéo về. The mỏng đến từ La Cả, La Khê. Lụa đũi đến từ Đại Mỗ. Gấm đến từ Vạn Phúc, còn lĩnh thì từ làng Bưởi. Người Chợ Dầu, người Hàng Bông Nhuộm và người ven Hồ Tây chuyên nhuộm đũi thành màu thâm. Người Cầu Gỗ, người Bưởi thì nhuộm các màu, hoặc chuội cho tơ trắng ra.

Đến đầu thế kỷ hai mươi, hai bên con đường chưa có vỉa hè là chừng một trăm cửa hiệu. Trong hiệu bày gấm, bày vóc, bày the. Người mua kẻ bán mặc cả với nhau rôm rả. Các bạn nhỏ thử đoán xem, một bà cụ dưới quê lên phố, giữa cả trăm cửa hiệu giống nhau, làm sao tìm lại được đúng hiệu quen? Người Hàng Đào có lẽ đã nghĩ ra một cách rất hay. Mỗi hiệu vải lụa của người Việt treo trước cửa hình một con thú, cắt bằng tôn hoặc làm bằng gỗ sơn. Khách nhớ con thú là nhớ ra hiệu. Chẳng trách người xưa có câu ca dao: Ổi Quảng Bá, cá Hồ Tây, Hàng Đào tơ lụa làm say lòng người.

Thời Pháp thuộc, phố mang một cái tên tiếng Pháp, rue de la Soie, nghĩa là phố Tơ Lụa. Đầu thế kỷ hai mươi, nghề nhuộm dời khỏi Hàng Đào, sang những nơi như phố Cầu Gỗ. Năm một nghìn chín trăm mười bảy, hiệu bán đồ kim chỉ đầu tiên xuất hiện. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các thương nhân người Ấn Độ mở những hiệu bán vải bông. Sang những năm ba mươi, trong hiệu vải đã có nước hoa, phấn son, mũ và cà vạt đem từ Paris sang. Lụa điều bây giờ phải nằm chung với bao nhiêu món hàng lạ mắt.

Con phố của tơ lụa cũng là phố của những con người đáng nhớ. Ở nhà số bốn là gia đình cụ cử Lương Văn Can, một trong những người sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Ngôi trường ấy mở ngay trên phố Hàng Đào vào tháng ba năm một nghìn chín trăm lẻ bảy, và chỉ hoạt động chưa đầy một năm. Còn ở nhà số hai mươi lăm, bà Cả Mọc lập ra một hội trông nom con nhà nghèo, để cha mẹ các em yên tâm đi làm, mà không lấy tiền. Nơi ấy được xem là nhà trẻ đầu tiên của Hà Nội. Giữa phố buôn bán tấp nập, có một mái nhà dành riêng cho những đứa trẻ.

Năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, phố lấy lại cái tên Hàng Đào, và giữ tên ấy cho đến hôm nay. Từ giữa những năm tám mươi, phố lại sôi động với hiệu đồng hồ, hiệu kim chỉ và hiệu quần áo may sẵn. Bây giờ, hai bên phố san sát cửa hàng quần áo và vải vóc. Hàng Đào vẫn được người Hà Nội coi là một trong những phố chính, phố nổi tiếng bậc nhất của khu phố cổ.

Tối cuối tuần, con phố lại khoác một chiếc áo khác. Hàng Đào nối với Hàng Ngang, Hàng Đường rồi chạy tới chợ Đồng Xuân, thành một tuyến chợ đêm đi bộ. Người đi dạo chậm rãi giữa lòng đường, ghé qua những gian hàng thủ công mỹ nghệ và đặc sản. Ít ai trong dòng người ấy biết rằng sau dãy nhà số lẻ từng có hồ Thái Cực, và ngay giữa lòng phố từng họp chợ Hàng Tơ.

Thợ nhuộm đã rời phố từ lâu, mặt hồ cũng đã thành nhà. Nhưng trong một cửa hàng nào đó trên phố, có thể vẫn có một tấm vải đỏ đang được người bán gấp lại, đặt vào tay người mua. Sắc đỏ ấy như đã đi một chặng rất dài, từ phường nhuộm mà Nguyễn Trãi từng ghi vào trang sách, qua tay những người thợ Đan Loan, qua những phiên chợ Hàng Tơ, để đến được bàn tay này.

Câu chuyện gần đây