Hạt cà phê vượt biển đến Việt Nam
Trong vườn ươm, một chiếc mầm trắng nhỏ xíu đang nhú ra từ hạt cà phê. Suốt những ngày ủ, hạt luôn được giữ cho ẩm. Người ươm cây chỉ đợi khoảnh khắc này. Thấy mầm trắng ló ra, người ta mới mang hạt ra luống.
Luống đất đã được làm xong từ trước. Đất trên luống nhỏ và mịn, mặt luống được san cho thật bằng. Từng hạt được đặt xuống, mỗi hạt nằm riêng một chỗ, không hạt nào đè lên hạt khác. Trên cùng, một lượt đất mỏng được rắc phủ lên.
Từ hôm đó, ngày nào luống cũng được tưới nhẹ bằng chiếc bình tưới. Nước lọt qua những lỗ nhỏ li ti, rơi xuống lất phất như mưa bụi. Có người dùng vòi sen nhỏ lỗ, nước rơi xuống cũng nhẹ nhàng như vậy. Chẳng ai dội mạnh tay. Lớp đất mỏng trên luống cứ thế thấm ướt, ngày này qua ngày khác.
Ở Việt Nam bây giờ, ươm hạt cà phê là việc quen thuộc của biết bao người trồng cây. Thế nhưng đã có một thời, trên dải đất cả nhà mình đang sống, chưa có lấy một cây cà phê. Quê gốc của cây cà phê ở tận châu Phi, xa nước mình lắm, bên kia những vùng biển rộng. Cây đã phải vượt biển mới tới được đất Việt.
Vào thế kỷ mười chín, cây cà phê đặt chân lên đất nước mình. Theo các nhà nghiên cứu, những người mang các cây đầu tiên sang là một số linh mục người Pháp. Vị khách tới trước tiên là một giống mà người Việt gọi là cà phê chè.
Với đất mình khi đó, cà phê còn là một thứ cây lạ. Người ta đem cà phê chè đi trồng thử ở nhiều vùng, từ Hà Nam, Thanh Hóa ở phía bắc, dọc theo dải đất miền Trung xuống tới Quảng Trị. Người khách lạ còn được đưa lên thử cả Tây Nguyên, và vào cả miền Đông Nam Bộ.
Đi tới đâu, cà phê chè cũng lớn lên được, nhưng cho ít quả. Một phần là vì người ta trồng xong thì để mặc cây tự lớn, ít ai chăm. Một phần là vì sâu bệnh phá hại nặng. Có thứ sâu nhỏ khoét vào bên trong thân cây. Lại có bệnh gỉ sắt làm hỏng lá.
Mặt dưới chiếc lá bệnh lấm tấm những chấm vàng, lâu dần thành một lớp bột màu cam. Rồi lá khô héo, rụng xuống. Nhiều cây chết đi hàng loạt. Cà phê chè thuở ấy cứ lay lắt, chẳng lan rộng ra được.
Đầu thế kỷ hai mươi, người Pháp đưa sang thêm hai giống cà phê mới, là cà phê vối và cà phê mít. Hai vị khách đến sau chịu hạn giỏi hơn, lại chống chọi với bệnh tốt hơn. Thế là đất Việt có đủ ba giống: cà phê chè, cà phê vối và cà phê mít. Ba cái tên nghe gần gũi, nhưng cả ba đều là cây cà phê.
Cũng vào thời gian đó, người Pháp mở những đồn điền, những khu đất lớn trồng cà phê. Các đồn điền bắt đầu từ những vùng như Phủ Quỳ ở Nghệ An, rồi lan dần lên Tây Nguyên, tới Buôn Ma Thuột.
Riêng cà phê mít còn được mang lên vùng đất đỏ bazan ở phía tây Quảng Trị. Ở đó, người ta gieo cà phê mít từ hạt, và cây vươn mình lên cao vút. Có những cụ già người Bru Vân Kiều ở Khe Sanh, Hướng Hóa từng kể rằng mình còn nhớ cái thời cà phê mít mọc khắp vùng.
Còn cà phê vối thì như người đi xa cuối cùng tìm được nhà: Tây Nguyên thành quê hương mới của nó. Trên những cao nguyên đất đỏ bazan, cây mọc khỏe và tốt hơn mọi vùng khác trên đất nước mình. Khí hậu ở đây hợp với cây, đất đai cũng hợp với cây. Nhưng đặc biệt hơn cả, cà phê vối có những con người Tây Nguyên chăm chút cho nó. Ngày nay, phần lớn những vườn cà phê trong cả nước nằm trên Tây Nguyên.
Cà phê chè, vị khách đến sớm nhất, rồi cũng tìm được chốn riêng của mình. Bây giờ, giống cây này sống chủ yếu trên những vùng đất Tây Bắc và Lâm Đồng, thêm rải rác ở vài tỉnh miền Trung.
Những cây đầu tiên phải vượt biển mới sang được. Còn bây giờ, nước mình đã đứng thứ hai thế giới về làm ra cà phê và bán ra nước ngoài.
Trên Tây Nguyên hôm nay, sau một đợt khô hanh, những nụ hoa nhỏ đã thành hình trên cành. Lúc đó người trồng mới tưới nước cho vườn, và cả vườn nở hoa gần như cùng một lượt.
Sau Tết, hoa cà phê nở trắng cả những triền đồi Tây Nguyên. Hương hoa thơm ngát, lan đi khắp nơi. Ong kéo nhau về, vo ve quanh những hàng cây trắng hoa. Hoa chỉ nở ít ngày rồi tàn, để cây kết quả. Tới mùa lấy mật, người nuôi ong ở Đắk Lắk thu về thứ mật mang hương hoa cà phê.
Quả cũng đậu gần như cùng một lượt. Lúc mới đậu trên cành, quả mang một màu xanh đậm. Chín dần, quả ngả sang vàng. Đến khi chín hẳn, quả đỏ tươi.
Bên trong một quả thường có hai hạt nhỏ, thuôn thuôn hình bầu dục. Mỗi hạt có một mặt phẳng hướng vào phía trong, và hai hạt nằm sát khít bên cạnh nhau. Dọc theo chiều dài mỗi hạt có một đường rãnh nhỏ. Cũng có quả chỉ mang một hạt tròn duy nhất, người ta gọi là cà phê culi.
Hạt cà phê nhú mầm trắng mà cả nhà mình gặp trong vườn ươm cũng đã từng nằm trong một quả như thế.
Cuối năm là mùa hái cà phê ở Đắk Lắk. Người hái cố chờ đến lúc phần lớn quả trên cây đã chín. Lúc đó mới tuốt những cành quả chín đỏ. Nhà này sang hái giúp nhà kia, đến lượt nhà kia lại sang giúp nhà này. Họ hàng, hàng xóm cứ thế đổi công cho nhau. Những khoảng sân phơi cũng đã được dọn sẵn, đón quả cà phê từ vườn về.
Xa về phía bắc là Quảng Trị, một trong những vùng đất cà phê chè từng được trồng thử từ những ngày đầu cây mới tới. Ngày xưa, trên những vùng đất trồng thử đó, lá cà phê chè lấm tấm chấm vàng vì bệnh gỉ sắt, rồi khô héo, rụng xuống.
Giờ, ở Hướng Hóa phía tây Quảng Trị, người ta trồng rất nhiều cà phê chè. Giống được trồng ngày càng rộng ở đây chống chịu được bệnh gỉ sắt. Vườn cà phê ở vùng này thường không được tưới, cây ra hoa theo nước trời. Mưa về trên đồi nào, cà phê chè trên đồi ấy trổ hoa trắng.