Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Hạt ngô từ phương Bắc

0:000:00

Mắt người khách phương Nam dừng lại ở một hàng bánh bên con đường lên đất Sơn Đông, bên Trung Hoa. Trên hàng bày những chiếc bánh nhỏ, mặt bánh rắc lấm tấm hạt táo, hạt dưa. Ông nhìn kỹ, rồi nghĩ ngay tới món kê ở quê nhà: cũng chẳng khác nhau là mấy.

Chỉ là mấy chiếc bánh ven đường, nhưng ông nhớ.

Người khách ấy đi xa vì việc nước. Năm một nghìn bảy trăm sáu mươi, Lê Quý Đôn cùng ông Trần Huy Mật dẫn đầu một đoàn sứ thần sang nhà Thanh. Đoàn lên đường vào cuối tháng Giêng, cứ nhắm hướng bắc mà đi. Tới Lạng Sơn, vùng biên ải của nước mình, cả đoàn dừng chân sửa soạn rồi mới qua biên giới.

Bên kia biên giới, đường còn dài lắm. Ông đi qua đất Quảng Tây, leo lên mấy đỉnh núi lừng danh của vùng ấy. Rồi ông tới vùng Hồ Quảng và Sơn Đông, đứng ngắm non sông xứ người trải ra trước mắt. Ông ghi chép dọc đường, rồi gom lại thành một cuốn sách riêng tên là Bắc sứ thông lục. Hàng bánh rắc hạt táo, hạt dưa kia cũng nằm đâu đó trên con đường dài ấy.

Hơn hai năm sau ngày lên đường, đoàn sứ mới về tới biên ải. Lạng Sơn, nơi các ông từng dừng chân sửa soạn, giờ đón các ông trở về nước.

Về nhà rồi, Lê Quý Đôn vẫn đọc, vẫn viết. Vào năm Quý Tỵ, năm một nghìn bảy trăm bảy mươi ba, qua rằm tháng Bảy, ông viết xong lời tựa cho cuốn Vân đài loại ngữ. Trong cuốn sách ấy, ông viết lại cả chiếc bánh ven đường lên Sơn Đông. Và ngay trước chiếc bánh, ông tả một thứ cây mà cả nhà mình quen lắm.

Để tả cây, ông mượn lời một cuốn sách thuốc phương Bắc. Lưng chừng thân cây có một cái bọng phình ra, chóp bọng thò lên một chùm râu trắng. Cây thì vươn cao chừng ba bốn thước. Phải chờ bọng nứt, người ta mới thấy hạt. Hạt vàng có, hạt trắng có, nằm chen nhau chật kín. Đem rang lên, hạt nở tung thành những bông trắng xốp, trông chẳng khác gì thóc nếp rang.

Người nước mình, ông viết, gọi nó là lúa ngô.

Tên gọi thì của nước mình, còn cây thì từ rất xa mới tới. Nó vốn là cây của châu Mỹ, ở mãi bên kia đại dương. Người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha đem nó theo những con thuyền buôn sang châu Á. Chậm nhất là cuối thế kỷ mười bảy, ngô đã có mặt ở Đàng Ngoài, miền bắc nước mình.

Các nhà nghiên cứu chữ nghĩa cho rằng ở phía bắc, người ta gọi cây là lúa ngô, hay ngô, vì nó từ đất Ngô phương Bắc mà sang. Còn ở phía nam, người ta gọi nó bằng một cái tên khác hẳn, là bắp.

Trồng thứ cây ấy chẳng cần cày bừa gì nhiều. Ngày xưa, người lớn ra đồng chọc mũi dao xuống đất, xoay một vòng, rồi thả hạt ngô vào.

Rồi Lê Quý Đôn kể tới một người cũng từng đi sứ phương Bắc trước ông: ông Trần Thế Vinh, người huyện Tiên Phong, trên đất Sơn Tây của xứ Đoài xưa. Vào những năm đầu đời Khang Hy nhà Thanh, ông Trần Thế Vinh được cử đi sứ sang nhà Thanh. Đường ông đi thế nào, sách không tả. Lê Quý Đôn chép rằng ông mang được giống lúa ngô về nước.

Cũng trong đoạn sách ấy, Lê Quý Đôn chép thêm rằng khắp đất Sơn Tây có ngô để ăn thay cơm gạo. Về trẻ nhỏ, ông thêm một câu: ăn nhiều ngô thì bụng cũng đầy. Ông cũng để ý rằng ngô ở hai nơi không giống nhau. Ở Nghệ An, người ta trồng phần nhiều là ngô trắng. Còn trên đất Lạng Sơn, nơi từng đón đoàn sứ của Lê Quý Đôn trở về, hạt ngô có tới năm màu khác nhau.

Ở làng Bùng trên đất Thạch Thất, nay thuộc Hà Nội, người ta lại kể về một con đường khác lên phương Bắc, từ rất lâu trước ngày Lê Quý Đôn lên đường. Người đi trên con đường ấy là ông Phùng Khắc Khoan, một người con của làng. Ông sinh năm một nghìn năm trăm hai mươi tám, ngay trên mảnh đất ấy. Làng xưa cũng nằm trong đất Sơn Tây. Dân gian quen gọi ông bằng chính tên làng: Trạng Bùng. Ông đỗ Hoàng giáp chứ không đỗ Trạng nguyên, nhưng người ta vẫn tôn gọi ông là ông Trạng.

Năm một nghìn năm trăm chín mươi bảy, Phùng Khắc Khoan được cử đứng đầu cả đoàn sứ thần, làm Chánh sứ, lên đường sang đất nhà Minh. Lúc ấy ông đã xấp xỉ bảy mươi tuổi. Đoàn mang theo một việc lớn, là xin nhà Minh công nhận vua Lê của nước mình.

Tới biên giới, đoàn bị làm khó. Ông phải dùng lời lẽ mà tranh luận. Lên tới Yên Kinh, nơi vua Minh ngự, đoàn lại chờ, chờ mãi ngày này qua ngày khác. Ở đó, ông lại phải tranh luận với quan nhà Minh về ngôi vua Lê.

Nhân tiết Vạn Thọ mừng sinh nhật vua Minh, ông dâng một tập ba mươi bài thơ chúc thọ. Vua Minh khen tập thơ ấy. Cũng ở kinh thành này, ông gặp một sứ thần Triều Tiên. Hai người làm thơ đối đáp nhau, người này viết, người kia họa lại.

Sử của triều đình còn nhắc khá kỹ tập thơ mừng thọ và cuộc tranh luận với quan nhà Minh ở Yên Kinh. Riêng chuyện ông mang ngô về thì sử không chép.

Theo lời truyền của làng, ông đã học trồng ngô, trồng vừng và dệt vải lượt mỏng ở đất phương Bắc. Về tới quê, ông dạy lại cho bà con trong làng. Người làng tôn ông làm ông tổ của những nghề ấy.

Có lời kể rằng trên đường về, ông giấu hạt ngô trong búi tóc. Những người theo ông xách hòm, mà quai hòm là dây khoai lang tết lại. Còn cây gậy chống đi đường, hóa ra là một cây sắn. Chuyện ấy sống trong lời kể của dân gian. Hạt ngô theo ông Trần Thế Vinh hay theo Trạng Bùng mà về nước, đến nay chưa ai nói chắc được.

Nếu các nhà nghiên cứu chữ nghĩa đoán đúng, thì tiếng ngô bé xíu người xứ Đoài gọi mỗi ngày vẫn còn giữ tên đất Ngô ở phương Bắc xa xôi.

Câu chuyện liên quan