Mâm cỗ trông trăng đêm Trung thu ngày xưa
Coi cũng đẹp. Hơn một trăm năm trước, có một người đã khen đúng ba chữ ấy cho mâm cỗ đêm rằm tháng Tám của các cô gái hàng phố. Các cô thi nhau xem ai khéo tay hơn. Quả đu đủ qua tay các cô được gọt thành hoa, hết thứ hoa này lại sang thứ hoa khác. Bột thì được nặn thành con tôm, con cá. Thi nhau đến thế, mà lời khen chỉ vỏn vẹn ba chữ: coi cũng đẹp.
Đứng đầu mâm là bánh mặt trăng. Mâm còn có bao nhiêu thứ bánh trái, hoa quả, được nhuộm màu này sắc nọ cho thật sặc sỡ. Xanh, đỏ, trắng và vàng chen nhau trên cùng một mâm, tươi như một đám hội.
Ngày rằm ấy, cỗ bày hai lượt. Ban ngày, người ta làm cỗ cúng gia tiên, dâng lên ông bà tổ tiên. Tối đến mới bày cỗ thưởng nguyệt, mâm cỗ dọn ra để ngồi ngắm trăng. Rằm tháng Tám, người ta quen gọi là Tết trẻ con. Thế mà có nhà tiêu tốn cho cái Tết ấy nhiều lắm.
Đồ chơi Tết của trẻ con hồi ấy toàn là đồ giấy bồi. Từ voi với ngựa, kỳ lân với sư tử và rồng, cho tới bươm bướm với bọ ngựa, con nào cũng từ giấy mà ra. Giấy còn được bồi thành giàn mướp, thành đình chùa, thành đèn cù lẫn đèn xẻ rãnh. Giữa đám đồ chơi ấy còn có một ông nghè đất.
Có nhà, chỉ trong một mùa Tết, bán những món ấy mà thu về tới một vài trăm bạc. Ngay thời ấy, đồ chơi cũng đã có món mới. Đó là những đồ chơi làm bằng sắt tây, mỏng như lá. Tính tới lúc người chép phong tục đặt bút, chúng mới được người ta chế ra mười năm nay.
Người buông lời khen ba chữ ấy tên là Phan Kế Bính. Ông là một ông cử giỏi chữ Hán, vừa dịch sách, vừa viết báo, vừa đi tìm hiểu cách sống của người mình. Gần một trăm phong tục ông viết, sau này được gom lại thành sách Việt Nam phong tục, và Trung thu chỉ là một mục ngắn trong đó. Vậy mà nhờ mục ngắn ấy, mâm cỗ ngày ấy còn tươi màu tới bây giờ.
Tục treo đèn, bày cỗ từ đâu mà có? Phan Kế Bính chỉ đoán thôi. Ông ngờ rằng nó bắt nguồn từ chuyện vua Đường Minh Hoàng, một ông vua đời Đường bên Trung Hoa. Chuyện kể rằng vào ngày sinh nhật vua, khắp nơi treo đèn, bày tiệc ăn mừng, rồi người mình theo đó mà thành tục. Đó là lời đoán của ông. Còn Tết Trung thu có từ bao giờ thì chưa ai biết chắc.
Tối rằm hồi ấy, đường phố như thuộc về trẻ con. Các em kéo nhau ra phố, từng đàn, từng lũ. Giữa đường, đám này kéo co, đám kia rước đèn, đám nọ rước sư tử. Trống đánh tùng tùng, chiêng thanh la đánh phèng phèng, vang cả đường, lẫn vào tiếng reo hò và tiếng cười đùa rầm rĩ. Nơi khác lại rộn tiếng hát trống quân. Hai bên hát đối đáp qua lại, có tiếng trống giữ nhịp.
Hơn một trăm năm sau, lại một đêm rằm tháng Tám trên một con phố như thế. Mâm cỗ bây giờ hay được bày ở chỗ thoáng để ngắm trăng: một khoảng sân chung, một đoạn vỉa hè. Ở chung cư, mâm bày dưới sân hoặc ở tầng trên cùng, nhưng muốn thấy trăng thì mọi người lại rủ nhau lên sân thượng.
Nhiều nơi, hàng xóm cùng một khúc phố hay một khu chung cư góp nhau bày chung một mâm. Táo, lê, nho và cam từ nước ngoài về nằm cạnh bưởi với hồng của mùa thu. Các cô, các mẹ trong xóm vẫn trổ tài khéo tay, tỉa trái cây và rau củ thành con vật, thành bông hoa. Đèn ông sao rực rỡ thì chẳng mâm nào thiếu. Còn trong từng nhà, nhiều gia đình vẫn bày một mâm riêng. Bây giờ, sắp một mâm cỗ chưa mất tới một buổi, có khi chẳng cần ra chợ.
Quan trọng nhất trên mâm vẫn là bánh nướng và bánh dẻo, thứ bánh người ta còn gọi là bánh mặt trăng. Nhân bánh bây giờ có trứng muối, có trà xanh, có cả cà phê. Bánh không chỉ tròn. Có chiếc hình con cá, lại có cả một đàn lợn mẹ lợn con. Vỏ bánh cũng không còn mỗi một màu nâu của bánh nướng. Lá cẩm nhuộm vỏ bánh màu tím, hoa đậu biếc cho màu xanh biếc, còn thanh long và bột trà xanh cũng góp mỗi thứ một màu.
Đèn xẻ rãnh, còn gọi là đèn ngựa chạy, thì đã đi xa, bây giờ chỉ còn nằm trong sách. Ngày trước, hơi nóng trong đèn bốc lên làm cái tán quay tròn. Tán quay, những cái cần gạt bên trong đẩy các hình lúc ra, lúc vào theo khe xẻ, như diễn viên ra vào trên sân khấu tuồng.
Hồi ấy, đồ chơi sắt tây là đồ chơi mới, đồ chơi của những nhà khá giả. Đến nay, chỉ còn sót lại đúng một món là chiếc tàu thủy. Tàu chạy được, kêu tạch tạch như tàu thật. Nhưng ngay chiếc tàu ấy giờ cũng thưa dần, vì gần như chẳng còn ai làm. Còn đèn ông sao với mặt nạ, những đêm rước đèn và tiếng trống múa lân, thì trẻ con hôm nay vẫn có đủ cả.
Ở Bảo tàng Dân tộc học, vào một mùa Trung thu gần đây, trẻ con được các nghệ nhân dân gian tận tay chỉ cho cách làm những món đồ chơi quen thuộc. Nào tò he với con giống bột, nào đèn ông sao, mặt nạ giấy bồi, và cả ông tiến sĩ giấy. Mâm cỗ trông trăng của bảo tàng mùa ấy còn bày cả đồ chơi trẻ con, ngay bên hoa quả và bánh trái. Ông tiến sĩ giấy ấy, người ta vẫn gọi thân mật là ông nghè. Thế là ông nghè đất ngày xưa đã có người cùng tên trên mâm cỗ hôm nay. Đặt ông lên mâm, cha mẹ gửi theo lời mong con chăm học, học giỏi.
Đêm nay, quanh mâm cỗ chung, hàng xóm ngồi trò chuyện và chờ trăng. Bánh trái còn nguyên trên mâm. Phải đợi trăng lên tròn nhất, đẹp nhất, mọi người mới cùng nhau ăn bánh, ăn trái. Ở đầu phố, trống múa lân đã tùng tùng rộn lên, đám trẻ rước đèn đi qua.
Trong lúc chờ, những bông hoa đu đủ ngày xưa như nở lại giữa đám con vật tỉa từ trái cây đêm nay. Con tôm, con cá nặn bằng bột như bơi đến nằm sát bên chiếc bánh hình con cá. Xanh, đỏ, trắng và vàng loang lên những lớp vỏ bánh tím và xanh biếc. Chỉ có chiếc đèn xẻ rãnh là không theo sang được, nó ở lại trong sách, còn đèn ông sao thì sáng khắp phố. Những con vật, bông hoa tỉa đêm nay qua tay các cô, các mẹ trong xóm, chắc phải được khen nhiều hơn ba chữ coi cũng đẹp.
Trên mâm đêm nay vẫn có chiếc bánh tròn mang tên mặt trăng. Một vầng tròn nằm trên mâm, một vầng tròn đang lên trên mái phố, và cả xóm quây quần giữa hai vầng ấy, chưa ai động tay phá cỗ.