Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Trần Bình Trọng

0:000:00

Ở Hà Nội, ở Thành phố Hồ Chí Minh và ở rất nhiều nơi khác trên cả nước, có những con phố mang tên Trần Bình Trọng. Người qua lại đọc cái tên ấy mỗi ngày, mà câu chuyện đằng sau nó lại bắt đầu từ một tấm ván thuyền. Đó là những ngày của cuộc kháng chiến thứ nhất chống quân Nguyên Mông, khi vua Trần Thái Tông phải lui quân trước giặc, trên đường lui về giữ dòng sông Thiên Mạc. Một vị tướng tên Lê Tần đã giơ tấm ván ấy lên thật nhanh, che chắn trước mặt nhà vua. Một tấm gỗ mộc mạc, vậy mà đã giữ an toàn cho cả một vị vua. Hơn hai mươi năm sau, cũng ở vùng Thiên Mạc ấy, con trai ông sẽ đứng lại để che chở cho hai vị vua khác. Người con ấy là Trần Bình Trọng.

Nhà Lê Tần vốn thuộc dòng dõi vua Lê Đại Hành thuở trước. Vì có công cứu giá, ông được triều đình ban cho mang quốc tính, tức là họ của nhà vua, nên người đời còn gọi ông là Lê Phụ Trần. Từ đó, con cháu trong nhà đều mang họ Trần. Vị tướng ấy còn làm nhiều việc lớn. Năm một nghìn hai trăm năm mươi chín, ông vượt đường xa đi sứ sang triều Nguyên. Về sau, ông làm Thủy quân Đại tướng quân, và được giao dạy dỗ hoàng tử Khâm, người sau này trở thành vua Trần Nhân Tông.

Cũng vào khoảng năm một nghìn hai trăm năm mươi chín ấy, cậu bé Trần Bình Trọng chào đời. Cậu sinh ra khi cuộc kháng chiến thứ nhất vừa khép lại, đất nước bước vào những năm tháng yên bình. Lớn lên, Trần Bình Trọng trở thành một vị tướng trẻ của nhà Trần. Trần Thái Tông, lúc ấy đã nhường ngôi cho con và làm Thượng hoàng, còn gả cho ông công chúa Thụy Bảo, con gái của mình. Chàng trai dòng dõi họ Lê giờ đã là người thân trong hoàng tộc.

Nhưng những năm yên bình không kéo dài mãi. Tháng Giêng năm một nghìn hai trăm tám mươi lăm, quân Nguyên Mông lại kéo sang lần thứ hai. Cầm đầu là Trấn Nam vương Thoát Hoan, con trai của hoàng đế Hốt Tất Liệt. Đạo quân ấy rất đông, chia làm ba đường tràn vào đất Đại Việt. Ở phía nam, một cánh quân khác do Toa Đô chỉ huy cũng đánh lên. Thế giặc lúc ấy rất mạnh, giống như hai gọng kìm từ hai đầu khép lại.

Nhà Trần chọn một cách đánh khôn ngoan. Thay vì đem hết quân ra liều một trận, triều đình tạm lui để giữ gìn sức lực và chỉ đánh những trận nhỏ bất ngờ. Muốn lui được an toàn, phải có người ở lại phía sau, chặn đường kẻ đuổi theo. Hưng Đạo vương cùng hai vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông đã trao việc ấy cho Trần Bình Trọng.

Nơi ông được giao giữ là vùng Đà Mạc, còn có tên là Thiên Mạc. Chính là vùng sông nước năm xưa vua Trần Thái Tông đã lui về, sau ngày cha ông giơ tấm ván thuyền che cho vua. Nhiệm vụ của ông nghe thì đơn giản mà khó vô cùng: chặn quân giặc lại, giữ chân chúng càng lâu càng tốt, để bộ chỉ huy kháng chiến kịp đi xa. Quân của ông chỉ là một đội quân nhỏ, gồm những người lính Thánh Dực, còn quân giặc thì đông hơn rất nhiều lần.

Trần Bình Trọng hiểu rõ điều đó. Ông không mong thắng một trận lớn. Ông chỉ cần đứng vững, thêm một lúc, rồi thêm một lúc nữa. Ở Đà Mạc, quân ta bị vây kín, ông bị thương nặng mà vẫn không lui. Rồi cuối cùng, ông sa vào tay giặc. Nhưng những giờ ông giữ được nơi ấy đã đủ. Phía sau lưng ông, hai vị vua và Hưng Đạo vương đã lặng lẽ rút đi an toàn, kín đến mức quân giặc không tìm ra dấu vết.

Giặc biết ông là một vị tướng tài, nên tìm đủ cách để dụ ông về phía mình. Ông không chịu ăn. Chúng hỏi chuyện việc nước, ông im lặng không đáp một lời. Chúng dọa nạt, rồi lại hứa hẹn đủ điều. Sau cùng, chúng hỏi ông có muốn làm vương ở đất Bắc không, tức là được phong làm một ông vua nhỏ, sống giàu sang nơi xứ người.

Trần Bình Trọng khẳng khái đáp: Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc.

Chữ quỷ ở đây không có gì đáng sợ đâu. Người xưa dùng chữ ấy để nói về hồn của người đã khuất. Có sách cổ còn chép là, ta thà làm ma nước Nam. Ý của ông thật giản dị. Dù có phải mãi mãi nằm lại, ông vẫn muốn được thuộc về quê hương mình, hơn là ngồi trên ngai vàng ở một nơi không phải nhà. Câu nói ngắn gọn ấy được chép vào bộ sử lớn Đại Việt sử ký toàn thư, và người Việt mình đã truyền tai nhau suốt mấy trăm năm.

Trần Bình Trọng không trở về nữa. Ông ra đi khi mới chừng hai mươi sáu tuổi. Còn rất trẻ, mà tên tuổi đã ở lại cùng non sông. Thương tiếc ông, triều đình nhà Trần truy phong ông tước hiệu Bảo Nghĩa vương. Tước hiệu ấy quen thuộc đến nỗi nhiều sách sử về sau gọi luôn ông là Bảo Nghĩa vương thay cho tên thật.

Những người viết sử đời sau vẫn nhớ đến ông. Nhà học giả Phan Huy Chú xếp ông vào hàng những người tiết nghĩa, nghĩa là những người giữ trọn lòng ngay thẳng đến cùng. Học giả Phan Kế Bính cũng làm thơ ca ngợi ông, với những câu như, cứng cỏi lòng trung nghĩa, ngàn thu tỏ đại danh. Dòng họ của ông còn tiếp nối, và người con cháu nổi tiếng nhất về sau là danh tướng Trần Khát Chân.

Không chỉ những con phố, tên ông còn được đặt cho nhiều ngôi trường, nơi các bạn nhỏ ngày ngày đến lớp, và cho nhiều di tích văn hóa, lịch sử.

Trên những tấm biển xanh ở góc phố, ba chữ Trần Bình Trọng vẫn nằm yên dưới nắng, nhìn dòng người qua lại mỗi ngày. Sau ba chữ nhỏ ấy là tấm ván thuyền người cha từng giơ lên che cho vua năm nào. Và là người con trai hai mươi sáu tuổi, đứng lại giữ vùng sông nước Thiên Mạc, để chính mình thành tấm ván che chắn cho cả một đất nước.

Câu chuyện liên quan