Thái sư Trần Thủ Độ
Chiếc thuyền nhỏ của nhà vua lặng lẽ rẽ nước, len giữa những con thuyền của triều đình đang tạm dừng bên bãi sông. Phía sau lưng, kinh thành Thăng Long đã bị bỏ lại. Phía trước là một câu hỏi chưa ai dám trả lời. Vua Trần Thái Tông ngồi trong chiếc thuyền ấy, đôi vai gánh cả giang sơn, đi tìm một lời khuyên.
Chuyện bắt đầu từ phương bắc xa xôi. Cuối năm Đinh Tỵ, một đạo quân Mông Cổ, sau khi chiếm nước Đại Lý ở vùng Vân Nam, đã quay mũi sang nước ta. Cầm đầu là viên tướng Ngột Lương Hợp Thai, dưới tay chừng ba vạn quân. Họ là những kỵ binh quen sống trên lưng ngựa, vó ngựa từng làm bao vùng đất phải khuất phục. Từ Vân Nam, họ theo hai con đường bộ men hai bờ sông Thao mà tràn xuống.
Bên này, người đứng đầu việc binh của triều đình lúc ấy là Thái sư Trần Thủ Độ. Thái sư là vị quan đứng hàng đầu, lo những việc lớn nhất của đất nước, nhất là việc giữ gìn bờ cõi. Ông sinh năm một nghìn một trăm chín mươi bốn, nên khi giặc kéo đến, ông đã ngoài sáu mươi tuổi. Thời vua Trần Thái Tông, ông chính là chỗ dựa vững chãi nhất của triều đình, người mà cả vua lẫn các quan đều tin cậy.
Quân ta định chặn giặc và đánh một trận lớn ở Bình Lệ Nguyên. Nhưng thế giặc rất mạnh. Kỵ binh Mông Cổ đông và dữ, quân Đại Việt bị đánh lui. Giữa lúc ấy, một vị tướng tên là Lê Tần khuyên vua đừng liều đánh tiếp, hãy lui quân để giữ lấy lực lượng. Vua nghe theo. Quân ta xuống thuyền, xuôi theo sông Cà Lồ, rồi theo sông Hồng về đóng ở bãi sông Thiên Mạc.
Kinh thành Thăng Long bị bỏ lại, nhưng không phải bỏ lại trong hoảng loạn. Khi quân Mông Cổ kéo vào, lực lượng của ta đã rút đi hết. Dọc những con đường giặc đi qua, người dân làm vườn không nhà trống, không để cho giặc bắt người, cũng không để cho giặc cướp của. Giặc chiếm được một kinh thành, mà trong tay chỉ là một kinh thành vắng lặng.
Thế nhưng trên những con thuyền ở Thiên Mạc, lòng người vẫn chông chênh. Thua một trận, mất kinh thành, ai mà không lo. Vua Trần Thái Tông cũng lo. Vua ngồi thuyền nhỏ, trước hết tìm đến thuyền của em ruột mình là Thái úy để hỏi kế.
Vị Thái úy không nói thành lời. Ông lấy ngón tay chấm nước, viết lên mạn thuyền hai chữ: Nhập Tống. Nghĩa là hãy chạy sang nước Tống ở phương bắc mà nương nhờ. Hai chữ viết bằng nước, mỏng manh như chính nỗi sợ lúc ấy.
Chiếc thuyền nhỏ lại rẽ nước đi tiếp. Lần này, vua tìm đến Thái sư Trần Thủ Độ. Vua hỏi một câu rất thật lòng: nên đánh tiếp, hay nên hàng?
Cả nhà hãy hình dung giây phút ấy. Một ông cụ đã ngoài sáu mươi, trước mặt là vị vua đang rối lòng, chung quanh là sóng nước và một đất nước đang nín thở. Ông có thể mệt mỏi, có thể sợ hãi, có thể chọn con đường dễ hơn. Nhưng ông nhìn thẳng vào vua, giọng chậm mà chắc:
Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo.
Ông không hứa hẹn điều gì cao xa. Ông không kể quân mình bao nhiêu, giặc yếu chỗ nào. Ông chỉ nói rằng chừng nào ông còn sống, còn đứng đó, thì vua cứ yên lòng. Một câu thôi, mà như có một bàn tay ấm đặt lên vai người đang run. Lời ấy không phải lời khoe khoang. Đó là lời của một người đã quyết cùng sống chết với đất nước, đặt sự bình yên của muôn dân lên trên mạng sống của riêng mình. Khi người được tin cậy nhất còn bình tĩnh đến thế, những người chung quanh cũng vững dạ trở lại.
Hai câu trả lời, trên hai mạn thuyền, giữa cùng một dòng sông. Một bên là hai chữ chạy đi, viết bằng nước. Một bên là một lời ở lại, nói bằng cả tấm lòng. Vua Trần Thái Tông đã chọn ở lại và đánh tiếp.
Rồi thời cơ đến. Đêm hai mươi tám, rạng sáng hai mươi chín tháng một dương lịch năm một nghìn hai trăm năm mươi tám, vua Trần Thái Tông tiến quân, trở ngược về phía kinh thành. Gần bốn vạn quân Đại Việt lặng lẽ áp sát. Đến nửa đêm, các mũi quân của ta đã tới sát những vòng canh gác của giặc. Mục tiêu là Đông Bộ Đầu, một bến sông Hồng ngay bên kinh thành, gần chỗ cây cầu Long Biên bắc qua sông ngày nay.
Cuộc phản công đến bất ngờ tới mức trong trại giặc, người không kịp mặc giáp, ngựa không kịp đóng yên. Bộ binh và kỵ binh nhà Trần tràn vào các doanh trại. Đạo quân Mông Cổ vốn quen thắng trận giờ rối loạn, rồi vỡ chạy về phương bắc.
Họ chạy ngược lên ngã ba Bạch Hạc, theo bờ sông Thao tìm đường về Đại Lý. Nhưng con đường về cũng không yên. Đến vùng Quy Hóa, chủ trại là Hà Bổng, một người Mường, đã cùng quân và dân trong vùng chờ sẵn, đánh một trận phục kích. Quân giặc lại thua to.
Năm một nghìn hai trăm năm mươi tám, cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất khép lại bằng thắng lợi. Đất nước nhỏ bé đã đứng vững trước một đạo quân từng làm bao vùng đất phải khuất phục. Có công của nhà vua dẫn quân phản công, của vị tướng biết khuyên lui đúng lúc, của người dân làm vườn không nhà trống, của quân dân Quy Hóa chặn đường về. Và có cả một câu nói giữa lúc mọi người hoang mang, của một ông cụ không chịu cúi đầu.
Hai chữ Nhập Tống viết bằng nước trên mạn thuyền năm ấy hẳn đã khô đi rất nhanh, gió sông thổi qua là mất. Còn câu nói của Thái sư Trần Thủ Độ thì đi qua mấy trăm năm vẫn chưa phai. Ngày nay, cầu Long Biên bắc ngang dòng sông Hồng đang trôi. Ở đâu đó gần chân cầu là bến Đông Bộ Đầu năm xưa, nơi tiếng vó ngựa giặc đã lùi xa về phương bắc, và mặt nước vẫn lấp lánh như chưa từng biết sợ.