Thanh Đô Vương Trịnh Tráng
Một buổi sớm mai ở vùng Bắc Hà xưa. Sương còn đọng trên ngọn lúa, đọng cả trên vai áo người nông dân đang vác cày ra đồng. Lũ trẻ ôm cặp sách men theo bờ ruộng tới lớp, chân trần lấm bùn mà cười khúc khích. Một ngày bình thường đến thế, mà phải có người lặng lẽ giữ gìn, nó mới được bình thường. Người ấy là một vị chúa hiền, tên là Trịnh Tráng.
Theo trang Họ Trịnh Việt Nam, ông sinh năm một nghìn năm trăm bảy mươi bảy. Cha ông là Bình An Vương Trịnh Tùng, cũng là một vị chúa lớn đương thời. Là con trưởng trong nhà, Trịnh Tráng lớn lên giữa bao việc lo toan giang sơn, và rồi gánh nặng ấy cũng dần đặt lên vai ông.
Năm một nghìn sáu trăm hai mươi ba, Trịnh Tráng kế nghiệp cha. Theo trang di tích lịch sử văn hóa, ông cầm quyền với tước hiệu Thanh Đô Vương. Nhưng cả nhà mình nhớ giúp một điều cho thật rõ nhé. Ông là chúa, người đứng bên cạnh phò giúp nhà vua, chứ không phải là vua. Thuở ấy đất nước có cả vua Lê và chúa Trịnh, người ta quen gọi là thời vua Lê chúa Trịnh, mỗi người một phận.
Từ năm một nghìn sáu trăm hai mươi ba đến năm một nghìn sáu trăm năm mươi bảy, ông cầm quyền chúa khoảng ba mươi tư năm. Cả nhà cứ thử nghĩ mà xem, ba mươi tư năm là một quãng dài đằng đẵng. Đủ để một đứa bé chào đời bên bờ ruộng kia lớn lên, biết cầm cày, rồi lại bồng con mình ra xem lúa trổ đòng. Suốt ngần ấy năm, vùng Bắc Hà, mà người xưa gọi là Đàng Ngoài, được giữ trong cảnh tương đối yên ổn.
Mà cả nhà ơi, sự yên ổn ấy quý lắm. Khi đồng ruộng không bị xáo trộn, người nông dân mới yên tâm cắm cây mạ xuống bùn, chờ ngày lúa chín. Mùa này nối mùa kia, thóc đầy bồ, khói bếp lên đều mỗi sớm mỗi chiều. Một vị chúa giữ được cảnh thanh bình lâu năm như thế, ấy là đã lo cho muôn nhà một điều giản dị mà lớn lao, là có cái ăn, có chỗ ngủ yên.
Và khi nhà cửa đã yên, người ta mới nghĩ được đến chuyện học hành. Theo Báo Hà Nội Mới, suốt thời vua Lê chúa Trịnh ở Thăng Long, việc học, việc thi cử chữ Nho vẫn được giữ gìn đều đặn. Triều đình vẫn mở các khoa thi để chọn người tài ra giúp nước. Cả nhà hình dung cảnh ấy mà xem.
Trong những ngôi trường làng mái lá đơn sơ, tiếng thầy giảng bài, tiếng trò ê a đọc chữ vang lên mỗi ngày. Có cậu học trò nghèo, sáng đi chăn trâu, tối về vẫn nắn nót tập viết bên ngọn đèn dầu, nuôi giấc mơ một ngày được lều chõng đi thi. Chính nhờ những năm tháng yên ổn ấy mà con chữ mới có chỗ nảy mầm, và bao đứa trẻ con nhà thường dân mới dám mơ tới chuyện đỗ đạt.
Cả nhà thấy không, cái hay của một vị chúa hiền nhiều khi không nằm ở những điều ồn ào, mà nằm ở chính sự bình lặng. Đồng lúa được mùa, lớp học có tiếng đọc bài, chợ làng đông vui mỗi phiên. Những điều tưởng như nhỏ bé ấy lại là cả một niềm mong mỏi của bao gia đình, và Trịnh Tráng đã lặng lẽ giữ gìn nó suốt một quãng đời dài.
Ông sống thọ lắm. Theo trang Họ Trịnh Việt Nam, ông qua đời năm một nghìn sáu trăm năm mươi bảy, hưởng thọ tám mươi mốt tuổi. Tám mươi mốt năm trên đời, phần lớn là những năm tháng lo cho dân được yên. Đời sau nhớ công ông mà truy tôn ông một danh hiệu trang trọng, là Văn Tổ Nghị Vương, như một cách con cháu tỏ lòng biết ơn người đi trước.
Cả nhà ơi, có những người được nhớ đến nhờ những chiến công vang dội, nhưng cũng có những người được nhớ đến chỉ vì đã giữ cho cuộc sống được êm đềm. Trịnh Tráng là một người như thế. Một vị chúa đứng bên phò giúp vua Lê, lặng lẽ gánh việc nặng để muôn nhà được ấm êm.
Mai này, nếu có dịp đi giữa một cánh đồng lúa xanh mướt vùng đồng bằng Bắc Bộ, nghe gió thổi qua bông lúa rì rào, và xa xa vọng lại tiếng trẻ con đọc bài trong một lớp học nhỏ, cả nhà mình hãy thử nhớ lại câu chuyện hôm nay. Sự bình yên trong gió ấy, mấy trăm năm trước đã có một vị chúa hiền lặng lẽ chở che. Tên ông là Trịnh Tráng, và có lẽ, đồng lúa xanh cùng tiếng trẻ đọc bài hôm nay vẫn đang thay ông kể lại câu chuyện ngày xưa.