Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Thanh Đô Vương Trịnh Tráng

0:000:00

Ở cửa sông Nhật Lệ, đêm nào nước triều cũng lên rồi lại xuống. Trong doanh trại phía bắc con sông, đèn đuốc lập lòe, gió biển mặn lùa qua những dãy lều. Rồi một tin đồn chạy từ lều này sang lều khác, khẽ thôi mà lạnh người: ở ngoài Bắc, có kẻ đang toan làm phản. Người phải nghe tin ấy và quyết định đi hay ở là Thanh Đô Vương Trịnh Tráng. Đó là mùa xuân năm một nghìn sáu trăm hai mươi bảy, và từ chuyến đi ấy, một cuộc chiến dài bắt đầu.

Trịnh Tráng sinh năm một nghìn năm trăm bảy mươi bảy, là con trưởng của Bình An Vương Trịnh Tùng. Nhưng xin nhớ cho thật rõ: ông là chúa, không phải vua. Thuở ấy là thời vua Lê chúa Trịnh: vua ngồi ngai, chúa đứng bên phò giúp và nắm việc nước.

Năm một nghìn sáu trăm hai mươi ba, Trịnh Tùng lâm bệnh nặng. Các quan thống nhất chọn Trịnh Tráng nối nghiệp. Người em là Trịnh Xuân không chịu, khởi binh làm loạn, và cuộc loạn ấy bị dẹp yên. Ít ngày sau khi cha mất, Trịnh Tráng lên thay. Nghe tin ấy, Mạc Kính Khoan, người họ Mạc đang giữ đất Cao Bằng, kéo hàng vạn quân xuống tận Gia Lâm, sát bên Thăng Long. Trịnh Tráng phải rước vua Lê lui vào Thanh Hóa. Đến tháng tám năm ấy, ông quay ra phá tan đạo quân của Kính Khoan ở Gia Lâm, chỉ còn mình Kính Khoan chạy thoát. Mùa đông năm đó, vua Lê phong ông làm Nguyên soái Thống quốc chính Thanh Đô Vương. Về sau ông còn nhiều lần đưa quân lên Cao Bằng, nhưng họ Mạc vẫn giữ được vùng núi ấy.

Còn ở phương nam, đất Thuận Hóa và Quảng Nam do chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Nguyên cai quản. Phủ chúa Trịnh sai người vào đòi thuế. Chúa Nguyễn từ chối, nói rằng hai xứ Thuận Quảng mất mùa nhiều năm, dân đang đói. Đầu năm một nghìn sáu trăm hai mươi bảy, Trịnh Tráng lại sai Lê Đại Nhậm mang sắc vua Lê vào, đòi chúa Nguyễn cho con ra chầu, nộp ba mươi thớt voi đực và ba mươi chiếc thuyền đi biển. Chúa Nguyễn không nhận, đáp rằng lệ cống nhà Minh xưa nay chỉ có vàng và kỳ nam.

Tháng ba năm ấy, Trịnh Tráng rước vua Lê cùng đi, cho quân thủy bộ tiến vào Nam. Tướng Nguyễn Khải đóng dinh ở bờ bắc sông Nhật Lệ. Bên kia sông, phía chúa Nguyễn có Tôn Thất Vệ làm tiết chế, Nguyễn Hữu Dật làm giám chiến. Súng đại bác của quân Nguyễn bắn ra, đẩy lùi cánh tiên phong. Đêm xuống, thuyền Nguyễn theo con nước triều áp sát, nã súng vào dinh Nguyễn Khải làm doanh trại rối loạn. Trịnh Tráng thúc quân tiến lên, đẩy được quân Nguyễn lùi lại, nhưng rồi đoàn tượng binh của chúa Nguyễn chặn đường, quân Trịnh thiệt hại rất nặng.

Đúng lúc ấy, tin đồn kia lan tới. Người ta nói anh em Trịnh Gia và Trịnh Nhạc ở ngoài Bắc đang định nổi loạn. Thật ra, đó là tin người của Nguyễn Hữu Dật cố ý tung ra. Trịnh Tráng sinh nghi, lo cho kinh thành sau lưng, và quyết định rút quân về. Chuyến nam tiến thứ nhất khép lại như thế. Nhưng cuộc tranh chấp giữa hai họ Trịnh và Nguyễn, người đời sau gọi là Trịnh Nguyễn phân tranh, thì chỉ mới bắt đầu, ngay trong những năm Trịnh Tráng cầm quyền.

Phía nam biết quân Bắc sẽ còn trở lại. Đào Duy Từ được tiến cử lên chúa Nguyễn, coi việc quân, và ông bày cách đắp lũy. Tháng ba năm một nghìn sáu trăm ba mươi, quân và dân cùng đắp một chiến lũy dài từ chân núi Trường Dục ra tới bãi cát Hạc Hải, chỉ hơn một tháng là xong. Năm sau, thêm lũy Nhật Lệ dài hơn ba nghìn trượng, cứ mỗi trượng đặt một khẩu súng, cửa biển còn được chăng xích sắt ngang qua. Con lũy ấy trở thành tuyến phòng thủ vững chắc của phía chúa Nguyễn.

Cuối năm một nghìn sáu trăm ba mươi ba, Trịnh Tráng lại rước vua Lê, tự mình dẫn đại quân thủy bộ đến cửa Nhật Lệ lần thứ hai. Quân Nguyễn đóng cọc chặn cửa biển, đắp thêm lũy ngoài để che lũy chính. Chúa Trịnh chờ cánh quân Quảng Nam mà Nguyễn Phúc Anh hứa đem ra hưởng ứng, nhưng không thấy đến. Hơn một tuần sau, quân Nguyễn từ trong lũy xông ra đánh, quân Trịnh vỡ trận, phải rút về Bắc.

Những năm tiếp theo, hai bên giằng co quanh vùng đất Bố Chính, khi được khi mất, và lũy Trường Dục vẫn đứng vững. Năm một nghìn sáu trăm năm mươi lăm, đến lượt quân Nguyễn vượt sông Gianh đánh ra, quân Trịnh thua liền mấy trận, mất cả một vùng đất phía nam sông Cả.

Vậy mà ở đất Bắc Hà, mà người xưa gọi là Đàng Ngoài, nếp vua Lê chúa Trịnh được củng cố vững vàng. Ở Thăng Long, việc học chữ Nho và thi cử vẫn được giữ đều đặn, triều đình vẫn mở khoa thi để chọn người tài. Trong những lớp học làng mái lá, tiếng thầy giảng, tiếng trò ê a đọc chữ vẫn vang lên mỗi sáng. Vùng giáp ranh phía nam dậy tiếng trống trận, còn trong làng, tiếng chày giã gạo vẫn đều đặn mỗi chiều.

Năm một nghìn sáu trăm bốn mươi lăm, Trịnh Tráng xin vua Lê cho người con thứ hai là Trịnh Tạc được quyền nối nghiệp. Tháng tư năm một nghìn sáu trăm năm mươi bảy, ông qua đời, thọ tám mươi mốt tuổi. Ông cầm quyền chúa khoảng ba mươi tư năm, từ năm một nghìn sáu trăm hai mươi ba đến năm một nghìn sáu trăm năm mươi bảy, là một trong những vị chúa Trịnh cầm quyền lâu năm. Đời sau truy tôn ông là Văn Tổ Nghị Vương.

Cuộc chiến bắt đầu từ chuyến đi năm ấy còn kéo dài nhiều năm sau khi ông mất. Còn ở cửa Nhật Lệ, nơi năm nào một tin đồn khẽ chạy qua những dãy lều đèn đuốc lập lòe, giờ không còn một ánh đuốc nào nữa. Chỉ còn gió biển thổi về, và tiếng sóng vỗ rì rào vào bãi cát.

Câu chuyện liên quan