Vua Thành Thái
Một buổi sáng ở kinh thành Huế hơn một trăm năm trước, có một ông vua trẻ tự tay cầm vô lăng, cho chiếc ô tô chạy lăn bánh trên con đường gần hoàng cung. Bụi đường tung lên. Người dân hai bên đứng nhìn sững sờ. Một ông vua mặc áo bào mà mê máy móc, mê xe cộ đến thế, chưa ai từng thấy bao giờ. Ông vua ấy tên là Thành Thái.
Theo sử liệu, tên thật của ông là Nguyễn Phúc Bửu Lân, sinh năm một nghìn tám trăm bảy mươi chín. Ông là vị vua thứ mười của triều Nguyễn. Điều đặc biệt là khi lên ngôi vào năm một nghìn tám trăm tám mươi chín, ông mới chỉ là một cậu bé mười tuổi. Mười tuổi, bằng tuổi nhiều bạn nhỏ đang nghe câu chuyện này, mà đã ngồi trên ngai vàng ở điện Thái Hòa.
Nhưng điều khiến người đời nhớ tới Thành Thái không phải vì ông lên ngôi sớm. Mà vì ông là một ông vua rất khác.
Thuở ấy, đàn ông trong triều ai cũng để tóc dài, búi gọn sau gáy. Thành Thái lại làm khác. Ông là vị vua đầu tiên trong lịch sử dám cắt tóc ngắn. Ông mặc cả âu phục, đọc báo phương Tây, học chữ Pháp và còn khuyến khích con cái, quan lại trong triều cùng học cái mới. Theo Báo Thanh Niên, ông tò mò với mọi thứ tân tiến. Nghe nói nơi quân Pháp đóng có thứ ánh sáng kỳ lạ gọi là điện, ông liền cho thắng xe ngựa, đi một mạch tới tận nơi. Ông đứng cả giờ đồng hồ chỉ để hỏi han cho bằng được cái đèn ấy sáng nhờ đâu.
Cái gì mới, cái gì lạ, ông đều muốn chạm tay vào, muốn hiểu cho tới cùng.
Thành Thái thích máy móc, thích cơ khí, thích cả điện báo, thứ mà thời đó còn rất xa lạ với người mình. Ông cho mua báo phương Tây về đọc, tìm hiểu xem thế giới bên ngoài đang đổi thay ra sao. Trong mắt ông, học hỏi cái hay của người khác chính là cách để dân mình tiến lên.
Nhưng có một điều ở Thành Thái còn quý hơn cả sự ham học. Đó là tấm lòng của ông với dân nghèo.
Ông không thích ngồi yên trong cung. Ông thường lặng lẽ đi ra ngoài, len lỏi vào các ngõ phố, bến chợ, ruộng đồng. Người ta gọi đó là vi hành. Ông muốn tự mắt mình nhìn xem người dân sống ra sao, ăn gì, lo gì, cực khổ thế nào. Một ông vua chịu rời ngai vàng để đi tìm hiểu nỗi vất vả của dân thường, thời nào cũng là điều hiếm quý.
Vậy mà chính ông vua ham học, ưa điều mới mẻ ấy, về sau cuộc đời lại có những năm tháng thật vất vả, phải sống xa quê. Năm một nghìn chín trăm lẻ bảy, ông rời ngai vàng. Rồi từ năm một nghìn chín trăm mười sáu, vì hoàn cảnh thời ấy, ông phải đi sống ở một hòn đảo xa tít tắp giữa Ấn Độ Dương, hòn đảo tên là Réunion. Giữa hòn đảo xa lạ ấy, nơi sóng biển vỗ ngày đêm, ông nhớ những con đường Huế mình từng tự tay lái xe đi qua, nhớ những bến chợ, ngõ phố ông từng lặng lẽ ghé thăm để xem dân mình sống ra sao. Người ta kể rằng ông luôn mong một ngày được trở lại.
Và rồi cả nhà ạ, điều ông mong cũng thành. Sau năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, Thành Thái được trở về Việt Nam, được đặt chân lại lên mảnh đất quê hương mà ông đã thương nhớ suốt một đời.
Ông mất năm một nghìn chín trăm năm mươi bốn, và được an táng tại An Lăng ở Huế, ngay bên cạnh vua cha của mình.
Hôm nay, mỗi khi nhắc tới Thành Thái, người xứ Huế vẫn nhớ một ông vua trẻ thích cắt tóc ngắn, mê lái xe, ham đọc sách và thương dân nghèo, một ông vua dám nghĩ khác. Giờ ông nằm yên dưới hàng cây ở An Lăng, lặng lẽ giữa lòng xứ Huế mà cả đời ông thương nhớ.