Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống
Cả nhà thử hình dung một câu hỏi thú vị.
Làm sao một khu bảo tồn thiên nhiên có thể trở thành điểm học tập tốt hơn cả sách giáo khoa?
Câu trả lời nằm ở đây, tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống, miền Tây Nghệ An.
Pù Huống không phải cái tên nhiều người nhắc đến khi nói về du lịch Nghệ An. Những ai quen thuộc hơn thường nhắc tới Pù Mát, tới thác Khe Kèm hay sông Giăng. Nhưng Pù Huống là một mảnh ghép không thể thiếu trong bức tranh lớn hơn.
Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An được UNESCO công nhận ngày mười tám tháng chín năm hai nghìn không trăm lẻ bảy, có ba vùng lõi. Một là Vườn Quốc gia Pù Mát. Hai là Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt. Và ba, chính là Pù Huống. Ba vùng lõi này tạo thành một hành lang sinh thái kết nối, mỗi nơi giữ một vai trò riêng trong toàn bộ hệ sinh thái miền Tây xứ Nghệ.
Pù Huống trải dài trên năm huyện miền núi: Quỳ Hợp, Quế Phong, Quỳ Châu, Con Cuông và Tương Dương. Sau khi sáp nhập thêm Ban quản lý rừng phòng hộ Quỳ Hợp, đơn vị hiện quản lý hơn bốn mươi nghìn hai trăm héc-ta rừng đặc dụng.
Câu chuyện bắt đầu từ năm một nghìn chín trăm tám mươi sáu. Lúc đó, người ta muốn bảo vệ hai loài cây gỗ quý hiếm: Pơ mu và Sa mộc. Khu bảo tồn chỉ có năm nghìn héc-ta, và chưa được thành lập thực sự trên thực địa. Mãi đến năm một nghìn chín trăm chín mươi lăm, Viện Điều tra Quy hoạch rừng khảo sát lại và đề xuất xây dựng khu bảo tồn quy mô gần năm mươi nghìn héc-ta. Và đến đầu năm hai nghìn lẻ hai, Ban Quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống mới chính thức được thành lập.
Từ giữ hai loài cây quý, đến bảo vệ một hệ sinh thái. Đó là cách Pù Huống phát triển trong vòng chưa đến hai mươi năm.
Khu văn phòng Ban Quản lý ở Quỳ Hợp là cửa ngõ của cả nhà vào thế giới Pù Huống, với ba điều rất đáng dành thời gian.
Thứ nhất là Nhà bảo tàng thiên nhiên và văn hóa mở Pù Huống. Nhà bảo tàng thành lập năm hai nghìn không trăm lẻ tám, tu bổ và mở rộng năm hai nghìn không trăm hai mươi ba. Bên trong có ba khu vực riêng biệt: khu nhà truyền thống với mô hình ba chiều địa hình địa mạo của toàn khu bảo tồn, khu trưng bày tiêu bản hệ động vật và khu trưng bày tiêu bản hệ thực vật. VietnamPlus mô tả đây là một thế giới thu nhỏ của khu dự trữ sinh quyển.
Khi đứng trước các mẫu tiêu bản trong bảo tàng này, cả nhà đừng nhìn chúng như vật trưng bày đơn lẻ. Hãy nhìn mỗi mẫu như một dữ liệu khoa học: nó đến từ đâu, loài này sống ở sinh cảnh nào, áp lực nào đang đe dọa nó và cần làm gì để bảo tồn. Đó mới là cách một bảo tàng thiên nhiên thực sự hoạt động.
Thứ hai là Vườn thực vật ngoại vi. Rộng gần mười một héc-ta, chia chín phân khu, sau hai mươi năm đã trồng được một trăm mười chín loài cây bản địa, trong đó có những loài quý hiếm như Lim xanh, Chò chỉ, Kim giao và Mun. Trong bảo tồn có hai chiến lược bổ trợ cho nhau. Bảo tồn nội vi là giữ loài ngay tại sinh cảnh tự nhiên của chúng. Bảo tồn ngoại vi là lưu giữ, nhân giống và nghiên cứu trong một không gian có kiểm soát hơn. Vườn thực vật này là ví dụ sống của chiến lược thứ hai.
Thứ ba là suối Khe Lạnh trong khuôn viên, một cảnh quan tự nhiên nhỏ gắn với không gian giáo dục môi trường.
Xa hơn một chút, dọc Quốc lộ bốn mươi tám C khoảng mười cây số từ văn phòng, là Đền Chọng. Đi sâu thêm nữa là thác Bản Bìa, cao gần một trăm mét, nước chảy quanh năm.
Mình nói thêm về đa dạng sinh học của Pù Huống để cả nhà thấy rõ giá trị nơi này.
Một đề tài điều tra do Tiến sĩ Đỗ Ngọc Đài thực hiện, khảo sát chín tuyến thuộc năm huyện, thu bốn nghìn tám trăm mẫu tiêu bản, đã xác định được một nghìn tám trăm lẻ sáu loài thực vật và mô tả sáu kiểu thảm thực vật khác nhau, từ rừng kín thường xanh nhiệt đới ở vùng thấp đến rừng hỗn giao cây lá rộng lá kim ở độ cao từ bảy trăm đến một nghìn sáu trăm mét. Một điều tra riêng về chim ghi nhận được hai trăm bảy mươi ba loài thuộc sáu mươi họ và mười bảy bộ, qua phương pháp kết hợp đi tuyến, phỏng vấn dân địa phương, đặt bẫy ảnh và máy ghi âm.
Pù Huống cũng là nơi cư trú của những loài quý hiếm mà VietnamPlus liệt kê: pơ mu, sa mu dầu, bách xanh, lan kim tuyến, voọc xám, vượn má trắng và gà lôi vằn.
Giá trị lớn nhất của Pù Huống không nằm ở một thác nước hay một rừng cây đặc biệt nào. Nó nằm ở việc mảnh rừng này vẫn còn đứng đó, vẫn xanh, vẫn là nơi trú ngụ của hơn một nghìn tám trăm loài thực vật và gần ba trăm loài chim. Đó là điều không tự nhiên xảy ra. Nó đến từ công sức của rất nhiều người trong nhiều thập kỷ.
Và cả nhà được đứng ở đây, giữa tất cả điều đó, là một đặc ân.