Chuyen.AIPlaylist
TP. Hồ Chí Minh

Khu Chợ Lớn

0:000:00

Thuở mới từ Quảng Đông sang Sài Gòn kiếm sống, Quách Đàm quẩy gánh đi mua ve chai khắp phố, ngả lưng ngay ở các bến sông cho đỡ tốn tiền. Ông là một người Triều Châu, sinh ra ở một vùng quê nghèo. Nhiều năm sau, chính người gánh ve chai ấy đã dựng nên Chợ Bình Tây, ngôi chợ mà người Sài Gòn xưa vẫn quen miệng gọi bằng một cái tên khác: Chợ Lớn.

Chợ Lớn cũng là tên của cả một vùng đất, nơi người Việt gốc Hoa đã sống qua hàng trăm năm. Một ngày ở đây bắt đầu từ ngôi chợ, đi qua những hội quán khói hương, rồi khép lại dưới ánh đèn lồng.

Trời còn mờ sáng, những lớp ngói âm dương trên mái Chợ Bình Tây dần hiện ra. Đây là ngôi chợ đầu mối, nơi tiểu thương từ những ngôi chợ nhỏ khắp thành phố tìm về lấy hàng sỉ, để mang về bán lại. Để có ngôi chợ ấy, người gánh ve chai năm nào đã đi một quãng đường dài. Ông buôn lúa gạo, giàu đến mức người ta gọi ông là vua lúa gạo.

Khi đất Chợ Lớn đã chật mà người thì mỗi ngày một đông, ông xin hiến đất và bỏ tiền ra xây một ngôi chợ thật lớn. Ông chỉ xin hai điều: được xây những dãy phố quanh chợ để cho thuê, và được dựng tượng mình ở trong chợ. Chợ khởi công năm một nghìn chín trăm hai mươi tám, xong năm một nghìn chín trăm ba mươi. Nhưng ông không kịp nhìn thấy. Ông mất năm một nghìn chín trăm hai mươi bảy, khi sáu mươi tư tuổi.

Trên nóc chợ có hình rồng chầu nguyệt, tức là rồng chầu về phía mặt trăng. Pho tượng đồng của ông ngày trước nay được đặt trong khuôn viên Bảo tàng Mỹ thuật thành phố. Trong chợ, bà con tiểu thương góp tiền dựng một bức tượng chân dung nhỏ hơn, và đến giờ vẫn có người thắp nén nhang cho ông.

Nhưng câu chuyện của vùng đất này bắt đầu sớm hơn thế nhiều. Khi nhà Minh bên Trung Hoa sụp đổ, nhiều người không chịu theo nhà Thanh đã vượt biển tìm đường sống. Năm một nghìn sáu trăm bảy mươi chín, chúa Nguyễn Phúc Tần cho ba nghìn quân nhà Minh vào đất phương Nam định cư. Con cháu họ lấy vợ lấy chồng người Việt, hòa vào tiếng nói và phong tục nơi đây, và được gọi là người Minh Hương.

Một nhóm trong số họ lập nên thị tứ sầm uất ở Cù lao Phố, bên Biên Hòa. Năm một nghìn bảy trăm bảy mươi sáu, binh lửa thời Tây Sơn tàn phá nơi ấy. Nhiều gia đình người Hoa dắt díu nhau về vùng Đề Ngạn, tên xưa của Chợ Lớn. Phố chợ của họ lớn hơn hẳn những ngôi chợ quanh vùng, có lẽ vì thế mà thành tên Chợ Lớn.

Ngày sáu tháng sáu năm một nghìn tám trăm sáu mươi lăm, Chợ Lớn thành một thành phố riêng, đứng tách khỏi Sài Gòn. Đến năm một nghìn chín trăm ba mươi mốt, hai thành phố mới nhập làm một. Ngày nay, giữa Thành phố Hồ Chí Minh vẫn có một phường mang tên Chợ Lớn.

Người Hoa ở đây không nói cùng một giọng. Họ hợp thành năm bang chính: Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam và Hẹ, trong đó đông nhất là người Quảng Đông. Hôm nay, thành phố có hàng trăm nghìn người Việt gốc Hoa. Mỗi bang có hội quán riêng, vừa là nơi thờ tự, vừa là mái nhà chung để đồng hương nương tựa nhau.

Gần trưa, khói hương lững lờ trong Chùa Bà Thiên Hậu, còn gọi là Hội quán Tuệ Thành. Tuệ Thành là tên xưa của thành Quảng Châu, quê nhà của những người dựng chùa vào khoảng năm một nghìn bảy trăm sáu mươi.

Người xưa kể rằng Bà Thiên Hậu tên thật là Lâm Mặc Nương, một cô gái trên đảo Mi Châu, biết trước những điều sắp tới và nhiều lần cứu người đi biển qua cơn sóng gió. Những người di dân mang theo bài vị của Bà trên chuyến vượt biển. Trên tấm bia trùng tu trong chùa còn khắc lời người xưa: kiều dân chỉ có chiếc thuyền nhỏ rẽ sóng xuống phương Nam, nên mỗi lần giương buồm đều khấn Bà cho gió lặng sóng yên.

Ngôi chùa đã qua nhiều lần trùng tu, và năm một nghìn chín trăm chín mươi ba được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Trước cổng có một cặp lân lớn dáng thon dài, mềm mại hơn những con lân oai vệ thường thấy. Mỗi năm, chùa mừng ngày vía Bà vào hai mươi ba tháng ba âm lịch. Trước đó một hôm, người ta làm lễ mộc dục, tắm tượng và thay cho Bà bộ xiêm y mới.

Quanh đó, mỗi bang lại kể chuyện quê mình bằng một ngôi hội quán. Hội quán Nghĩa An của người Triều Châu có những bao lam chạm hai mặt, kể chuyện xưa và cảnh sinh hoạt thường ngày. Còn Miếu Nhị Phủ, mà bà con quen gọi là chùa Ông Bổn, có mái cong như một chiếc thuyền rồng, trên đó rồng và cá chép được ghép lại từ những mảnh sứ.

Buổi chiều, câu chuyện ghé vào những gian bếp. Ở Chợ Lớn, người Hoa giữ những món ăn qua nhiều thế hệ: mì vịt tiềm, vịt quay da giòn, heo quay, chè đậu đỏ. Trên đường Hà Tôn Quyền, những quán sủi cảo nối nhau dọc phố.

Khi nắng chiều tắt, Chợ Lớn thắp đèn. Phố Lương Nhữ Học đã gắn với nghề làm đèn lồng hơn năm mươi năm. Mỗi mùa Trung thu, những con phố quanh đó treo kín đèn ông sao, đèn cá chép, đèn kéo quân, đèn rồng bay. Các bạn nhỏ đứng giữa phố ấy hẳn sẽ khó mà chọn được chỉ một chiếc.

Rồi đêm xuống. Trong Chùa Bà, những nén hương cuối ngày cháy chậm. Và trên nóc ngôi chợ của người gánh ve chai năm nào, con rồng vẫn lặng lẽ chầu về phía mặt trăng.

Câu chuyện gần đây