Nhà cổ Hương Liêm
Giữa vùng đất cù lao Minh, Bến Tre cũ, có một ngôi nhà gỗ đã đứng hơn trăm năm và vẫn còn đó nguyên vẹn từng cây cột, từng mảng chạm. Đó là Nhà cổ Hương Liêm.
Ngôi nhà này còn được gọi là Nhà cổ Huỳnh Phủ hoặc nhà cổ Đại Điền, cả ba tên đều chỉ về cùng một công trình gắn với ông Huỳnh Ngọc Khiêm, sinh năm một nghìn tám trăm bốn mươi ba, mất năm một nghìn chín trăm hai mươi bảy, thường được người địa phương gọi là ông Hương Liêm. Theo hồ sơ di tích của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bến Tre, ông là người miền Trung, vào Nam lập nghiệp và trở thành người giàu có bậc nhất vùng cù lao Minh lúc bấy giờ. Ngôi nhà ông xây lên là minh chứng cho sự thịnh vượng đó, nhưng còn hơn thế, là minh chứng cho tay nghề của những người thợ mộc xưa.
Công trình nhà cổ và khu mộ Huỳnh Phủ được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số một nghìn hai trăm năm mươi mốt, ngày mười bốn tháng tư năm hai nghìn không trăm mười một. Ngôi nhà nằm tại ấp Khu Phố, xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú cũ, tỉnh Bến Tre; sau sắp xếp hành chính, khu vực này thuộc tỉnh Vĩnh Long.
Ngay từ bước đầu tiên nhìn vào nhà, cả nhà đã thấy sự khác biệt. Hồ sơ di tích mô tả: nhà rộng khoảng mười bảy mét, dài khoảng hai mươi lăm mét, cao năm phẩy bảy mét. Kiểu nhà xuyên trính, hình chữ nhật, ba gian hai chái và hai liễm đôi, mái lợp ngói âm dương. Hệ cột gồm bốn mươi tám cột gỗ lim với đường kính từ bốn mươi đến năm mươi centimét, cùng ba mươi hai cột gạch ở hàng cột thứ tư, thay cho những cột gỗ bị hư hỏng trong giai đoạn một nghìn chín trăm bốn mươi lăm đến một nghìn chín trăm năm mươi tư.
Nhưng điều làm khách đứng lại lâu nhất không phải kích thước, mà là những gì được chạm khắc lên từng cây kèo, từng tấm vách, từng tấm khánh thờ. Theo hồ sơ di tích, các kèo gỗ lớn được đẽo cong, chạy chỉ viền và chạm nổi hoa văn; đầu kèo chạm hình rồng. Các vách trước gian giữa có những mảng chạm lớn mô tả thiên nhiên vùng đồng bằng sông nước, cây trái và sinh vật. Đề tài trang trí gồm tứ linh, tứ quý, bát bửu, sen hạc, tùng lộc, bách điểu và Nhị Thập Tứ Hiếu.
Không gian thờ tự ở gian giữa được hồ sơ di tích ghi rõ: giữa thờ Phật Bà Quan Âm, bên tả thờ Cửu Huyền Thất Tổ, bên hữu thờ ông bà Huỳnh Ngọc Khiêm. Các khánh thờ được chạm trổ công phu, sơn son thếp vàng. Hoành phi, bài vị, biển đề chữ Hán khắc gỗ, sơn son thếp vàng hoặc cẩn xà cừ là những chi tiết phản ánh thẩm mỹ và văn hóa của một gia đình nền tảng vào cuối thế kỷ mười chín, đầu thế kỷ hai mươi.
Về niên đại xây dựng, hồ sơ di tích thận trọng ghi rằng không biết chính xác năm khởi dựng; căn cứ vào một hoành phi mừng tân gia họ Huỳnh ghi năm Giáp Thìn một nghìn chín trăm lẻ bốn, thì nhà đã hoàn thành trước hoặc vào năm đó. Báo Thanh Niên và VOV Giao thông đều ghi cách kể phổ biến trong dân là nhà được xây trong khoảng từ một nghìn tám trăm chín mươi đến một nghìn chín trăm lẻ bốn. Đây là thông tin có nguồn báo chí địa phương, không phải kết luận khảo cổ, nên cần được kể như ký ức địa phương về một quá trình xây dựng rất kỳ công.
Và quá trình xây dựng đó có một câu chuyện truyền tụng đáng kể. Hồ sơ di tích và nhiều tờ báo đều nhắc giai thoại: người thợ xây nhà không nhận công theo ngày hay theo công đoạn, mà nhận theo dăm bào, tức những mảnh gỗ vụn bào ra trong mỗi ngày làm việc. Cách tính công kỳ lạ đó phản ánh một sự thật: đây là ngôi nhà mà người chủ muốn làm chậm, làm kỹ, làm tới mức từng mảnh gỗ đều xứng với tên Huỳnh Phủ. Tuy nhiên, đây là giai thoại văn hóa, nên được kể như lớp ký ức địa phương, không phải sự kiện kiểm chứng toàn bộ.
Phía sau nhà còn có giếng cổ Hương Liêm. Báo Thanh Niên ghi giếng sâu khoảng mười mét, xây bằng mười hai tầng đá mài, và được cho là hoàn thành trước khi nhà được khởi công xây dựng vào khoảng năm một nghìn tám trăm chín mươi. Điều đặc biệt là giếng có nước ngọt quanh năm dù vùng Thạnh Phú chịu xâm nhập mặn nặng. Mười hai tầng đá mài nằm dưới lòng đất, lặng lẽ giữ ngọt cho cả vùng qua bao mùa hạn mặn, cũng lâu bền không kém những cây cột lim bên trên.
Hơn một trăm năm sau ngày khánh thành, ngôi nhà vẫn đứng đó giữa cù lao Minh. Những đầu kèo rồng vẫn ngóc lên trong bóng tối mái ngói âm dương. Ánh sáng lọc qua vách chạm vẫn đổ những vệt vàng lên nền gạch như ngày nào ông Hương Liêm ngồi tiếp khách. Đứng trong lòng ngôi nhà ấy, cả nhà như nghe được tiếng đục của người thợ năm xưa, kiên nhẫn và chỉn chu, gõ từng nhát vào gỗ lim để lại điều gì đó xứng đáng tồn tại qua nhiều thế hệ.