Chuyen.AIPlaylist
Vĩnh Long

Khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu

0:000:00

Có những người, khi đời bẻ gãy đi mọi thứ, vẫn đứng thẳng. Nguyễn Đình Chiểu là một người như vậy.

Ông sinh ngày mùng một tháng bảy năm một nghìn tám trăm hai mươi hai, tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Ông đỗ tú tài năm một nghìn tám trăm bốn mươi ba. Sáu năm sau, đang ở Huế chờ thi Hội thì nghe tin mẹ mất. Ông về chịu tang, và trên đường về, hai mắt ông tối dần rồi tắt hẳn.

Một người khác có thể gục xuống. Nguyễn Đình Chiểu chọn cách khác. Ông mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh, và bắt đầu viết. Đó là lúc Lục Vân Tiên ra đời, rồi Dương Từ, Hà Mậu, rồi Ngư tiều y thuật vấn đáp. Những tác phẩm viết trong bóng tối của một người mù, nhưng đầy ánh sáng về lòng trung nghĩa và đạo làm người.

Năm một nghìn tám trăm năm mươi chín, Pháp chiếm Gia Định. Năm một nghìn tám trăm sáu mươi hai, ông về làng An Đức, tổng Bảo An, vùng Ba Tri, tỉnh Vĩnh Long xưa. Và ông ở đây cho đến khi mất, ngày mùng ba tháng bảy năm một nghìn tám trăm tám mươi tám. Sáu mươi sáu năm cuộc đời, trong đó gần bốn chục năm ở vùng đất Ba Tri mà ngày nay, Khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu tọa lạc tại ấp Giồng Cục, xã Ba Tri, tỉnh Vĩnh Long.

Di tích này mang danh hiệu di tích quốc gia đặc biệt, mức công nhận cao nhất trong hệ thống di tích Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số hai nghìn bốn trăm chín mươi chín vào ngày hai mươi hai tháng mười hai năm hai nghìn không trăm mười sáu.

Khi bước vào khuôn viên, công trình đầu tiên đón khách là cổng tam quan. Đây là kiểu cổng truyền thống hai mái chồng, lợp ngói âm dương màu đỏ gạch. Ngay từ bước đầu tiên, không khí đã trầm xuống, trang nghiêm, như một không gian tưởng niệm thực sự.

Tiếp theo là nhà bia cao mười hai mét, hai tầng mái. Bên trong nhà bia có tấm đá khắc chữ, một mặt ca ngợi công đức Nguyễn Đình Chiểu, mặt kia ghi tóm tắt tiểu sử. Đây là nơi phù hợp để dừng lại và đọc, để cả nhà hiểu mình đang đến thăm ai, tại sao người ấy được tôn kính đến vậy.

Đền thờ mới được xây trong giai đoạn hai nghìn đến hai nghìn không trăm lẻ hai, theo kiểu kiến trúc trùng thiềm điệp ốc. Vietnam.vn ghi đền cao hai mươi mốt mét, có hai tầng, và tầng trên đặt tượng đồng Nguyễn Đình Chiểu cao một phẩy sáu mét, nặng một phẩy hai tấn. Hai mảng phù điêu bên trong khắc lại hai khoảnh khắc lịch sử: Nguyễn Đình Chiểu đọc văn tế tại chợ Đập năm một nghìn tám trăm tám mươi ba, và trận đánh của nghĩa quân Phan Ngọc Tòng tại Giồng Gạch năm một nghìn tám trăm sáu mươi tám. Cả hai sự kiện ông đều trực tiếp chứng kiến và ghi lại.

Đền thờ cũ xây năm một nghìn chín trăm bảy mươi hai. Hai tầng mái, lợp ngói âm dương, bên trong thờ tự và lưu giữ tư liệu về các thủ lĩnh, nghĩa quân và phong trào chống Pháp cuối thế kỷ mười chín. Đây là lớp lịch sử trực tiếp hơn, gắn với thời kỳ ông Nguyễn Đình Chiểu đang sống và viết.

Cuối cùng là khu mộ. Khu mộ là nơi an nghỉ của Nguyễn Đình Chiểu, phu nhân Lê Thị Điền và con gái Nguyễn Thị Ngọc Khuê, tức nữ sĩ Sương Nguyệt Anh. Sương Nguyệt Anh là người con gái nổi tiếng của Nguyễn Đình Chiểu, một nữ sĩ được nhiều nguồn ghi nhận là một trong những nhà báo nữ đầu tiên của Việt Nam.

Câu thơ mà người miền Nam hay nhắc: "Chở bao nhiêu đạo thuyền không thẳm, đâm mấy thằng gian bút chẳng tà", đó là của ông. Một người mù, không quan chức, không binh lính, nhưng dùng ngòi bút như một thứ vũ khí không bao giờ cùn.

Đến Khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu là đến với một người thầy của đất Nam Bộ, người đã dạy rằng mất đi ánh sáng của mắt không có nghĩa là mất đi ánh sáng của lòng.

Câu thơ ấy vẫn còn đó, khắc trên đá, vang trên môi mỗi người đi qua. Và khu mộ đơn sơ giữa vùng đất Ba Tri mãi nhắc người ta rằng: có những ngọn đèn không cần mắt để thắp sáng.

Câu chuyện gần đây