Kinh và Ba Na là anh em
Ở vùng cao nguyên, vào những buổi sớm sương còn giăng trắng, ai đứng dưới chân núi mà gọi một tiếng, thì tiếng ấy đi thật xa. Nó chạm vào vách đá này, dội sang vách đá kia, luồn qua khe, len qua lá, rồi vọng lại nghe như có ai đang đáp. Người Ba Na ở Tây Nguyên kể rằng những ngọn núi biết chuyền tiếng người đi xa như thế là có lý do. Và lý do ấy nằm trong một câu chuyện thật xưa, chuyện về hai anh em, một người lên núi, một người ở lại đồng bằng.
Đây là truyền thuyết cội nguồn của người Ba Na, cả nhà nhé, chuyện các cụ vẫn kể cho con cháu nghe bên bếp lửa. Không phải sử sách có ngày có tháng, mà là chuyện xưa kể lại, ấm áp và hiền lành như hơi lửa trong nhà rông.
Ngày xưa, xưa lắm, khi người trên mặt đất còn thưa thớt, có một nhà nọ sống ở vùng đồng bằng rộng mênh mông. Đất bằng phẳng, chân trời tròn vành vạnh. Phía mặt trời mọc có một hồ nước lớn, sóng vỗ ì oàm suốt ngày đêm, mà lạ thay, hồ ấy cho người ta muối. Người trong nhà chỉ việc ra hồ là có muối đem về, nên bữa cơm nào cũng đậm đà.
Nhà ấy có người cha và hai người con trai. Hai anh em thương nhau, nhưng tính nết mỗi người một khác. Người anh điềm đạm, ý tứ. Người em hồn nhiên, hay cười, cái gì vui là cười giòn tan, cười tới chảy cả nước mắt.
Một trưa nọ, trời oi ả, người cha nằm nghỉ, tấm áo khoác ngoài để lệch sang một bên. Người anh thấy vậy, lặng lẽ cầm áo lại đắp cho cha cho khỏi cảm gió. Còn người em, chẳng hiểu sao, nhìn dáng cha nằm lại thấy buồn cười, rồi cứ thế ôm bụng cười mãi không thôi.
Người cha giật mình tỉnh dậy. Trong một lần nóng nảy, ông nói với người em mấy lời thật nặng. Lời vừa ra khỏi miệng, ai cũng lặng đi. Người em, lòng tủi thân, cúi đầu, rồi lẳng lặng thu xếp ra đi. Cậu đi về phía tây, nơi có những dãy núi xanh mờ chồng lên nhau tới tận chân mây.
Người anh ở lại đồng bằng cùng cha, giữ lấy nếp nhà, giữ lấy ruộng đồng và cái hồ cho muối. Còn người em cứ đi, đi mãi về phía núi, cho tới khi đồng bằng khuất hẳn sau lưng.
Nhưng người em ra đi không một mình. Cậu có một người vợ. Và khi biết chồng đã đi về phía núi, người vợ ấy không sao ngồi yên trong nhà được nữa.
Chị quyết đi tìm chồng.
Chị bước về phía tây, về phía những ngọn núi mà chồng đã khuất vào. Đường rừng đâu có dễ. Gai cào rách áo, đá tai mèo cứa chân, dốc dựng đứng như bức tường. Có quãng rừng tối đến mức giữa ban ngày mà cây cối cứ âm u. Vậy mà chị vẫn đi, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác.
Đi tới đâu, chị cũng cất tiếng gọi. Chàng ơi. Chàng ơi. Tiếng gọi của chị bay vào rừng sâu, va vào vách núi, rồi tưởng như tan mất giữa mênh mông cây lá. Chồng thì ở đâu đó xa lắc phía trước, làm sao mà nghe thấy được.
Thế rồi, chuyện kể rằng chính núi rừng đã thương người vợ ấy.
Những ngọn núi nghe tiếng gọi tha thiết cứ vang lên mỗi ngày, thấy thương quá, bèn xúm nhau lại giúp chị. Vách núi này hứng lấy tiếng gọi, rồi chuyền sang vách núi kia. Khe đá dẫn tiếng đi luồn qua từng ngóc ngách. Gió đưa tiếng gọi bay xa, lá rừng chuyền tiếng gọi từ cành này sang cành khác. Cứ thế, tiếng gọi của người vợ được cả một vùng núi non nâng niu, đưa đi mỗi lúc một xa, một xa hơn nữa.
Cho tới một hôm, ở lưng chừng núi phía tây, người chồng đang phát rẫy chợt sững người lại. Trong tiếng gió, trong tiếng lá, cậu nghe loáng thoáng có ai gọi tên mình. Chàng ơi. Chàng ơi. Tiếng gọi mỏng như sương, nhưng đúng là giọng người vợ thân thương của cậu.
Cậu buông tay, cất tiếng gọi đáp lại. Và lần này, cũng chính núi rừng chuyền tiếng cậu ngược trở lại cho vợ. Hai tiếng gọi tìm nhau giữa ngàn vách đá, mỗi lúc một gần. Rồi từ hai phía sườn núi, hai người chạy về phía nhau, mừng mừng tủi tủi, nước mắt lăn dài mà miệng thì cười.
Từ hôm ấy, hai vợ chồng không về đồng bằng nữa. Họ ở lại với núi rừng đã cưu mang mình. Họ dựng nhà bên sườn núi, phát rẫy, tra hạt, trồng lúa trồng ngô. Núi cho họ nước suối mát, rừng cho họ măng, cho họ củi. Mùa qua mùa, quanh nếp nhà nhỏ có thêm tiếng trẻ con, rồi thành một xóm, một buôn.
Con cháu của đôi vợ chồng ấy cứ thế đông dần lên giữa cao nguyên lộng gió. Và người Ba Na kể rằng, đó chính là ông bà tổ tiên của người Ba Na mình, những người con của núi rừng Tây Nguyên.
Còn ở dưới đồng bằng, người anh năm xưa vẫn giữ lấy mái nhà cha ông. Ruộng vẫn cấy, hồ vẫn cho muối, bếp vẫn đỏ lửa. Con cháu người anh cũng nối nhau đông đúc, mở mang khắp vùng đất bằng. Và dòng dõi người anh ở lại đồng bằng ấy, người ta kể, chính là người Kinh.
Thế đấy, từ một nhà mà ra cả. Người em lên núi, thành người Ba Na. Người anh ở lại đồng bằng, thành người Kinh. Kẻ ở non cao, người ở đồng thấp, cách nhau bao nhiêu là rừng là suối. Nhưng gốc gác thì chỉ có một, cùng một cha, cùng một mái nhà thuở ban đầu.
Người Ba Na kể câu chuyện này để con cháu nhớ rằng người Kinh với người Ba Na vốn là anh em. Không phải người dưng nước lã, mà là hai anh em ruột thịt của một nhà xưa, chẳng qua mỗi người chọn một chốn mà sống. Người quen với đồng bằng, với ruộng lúa thẳng cánh cò bay. Người quen với núi rừng, với rẫy nương và tiếng chiêng vọng trong thung lũng. Hai nếp sống, hai mái nhà, mà chung một dòng máu.
Cho nên bây giờ, mỗi khi đứng dưới chân núi Tây Nguyên, ta hay nghe một tiếng gọi vọng đi thật xa, chuyền từ vách đá này sang vách đá kia. Những lúc ấy, cả nhà hãy nhớ tới người vợ năm xưa lặn lội đi tìm chồng. Nhớ những ngọn núi tốt bụng đã chuyền giúp chị từng tiếng gọi. Và nhớ rằng, ở hai đầu tiếng vọng ấy, xưa kia là hai anh em một nhà, người lên núi, người xuống đồng, mà lòng thì chưa bao giờ rời nhau.