Khu di tích Lam Kinh
Ở Lam Kinh có một cây ổi rất lạ. Chỉ cần gãi nhẹ vào thân, tán lá đã rung lên bần bật, trong khi thân và cành vẫn đứng yên. Cây ổi ấy đứng bên lăng một vị vua, và câu chuyện của nó sẽ đợi đến cuối hành trình hôm nay.
Khu di tích nằm ở tỉnh Thanh Hóa, cách trung tâm tỉnh khoảng năm mươi cây số về phía tây bắc.
Đây là vùng đất Lam Sơn, quê hương của Lê Lợi.
Năm một nghìn bốn trăm mười tám, tại vùng đất này, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa. Ông lãnh đạo cuộc kháng chiến mười năm chống quân Minh xâm lược, kết thúc bằng thắng lợi vào năm một nghìn bốn trăm hai mươi bảy.
Năm một nghìn bốn trăm hai mươi tám, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Thuận Thiên, lập nên vương triều Hậu Lê, đóng đô ở Thăng Long. Về sau, ông được tôn miếu hiệu là Lê Thái Tổ.
Nhưng Lam Sơn, quê cha đất tổ, không bị lãng quên. Năm một nghìn bốn trăm ba mươi, Lê Thái Tổ đổi tên vùng đất này thành Lam Kinh.
Sau khi ông băng hà năm một nghìn bốn trăm ba mươi ba, triều đình xây dựng điện miếu tại đây để làm nơi thờ cúng tổ tiên.
Từ đó Lam Kinh trở thành Tây Kinh, kinh đô thứ hai của Đại Việt bên cạnh Đông Kinh Thăng Long.
Ngày hai mươi bảy tháng chín năm hai nghìn mười hai, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận Lam Kinh là di tích quốc gia đặc biệt.
Điểm đầu tiên cả nhà sẽ gặp khi tiến sâu vào khu di tích là Cầu Bạch, còn gọi là Tiên Loan Kiều. Đây là cây cầu đá cong vồng bắc qua sông Ngọc, với kiểu kiến trúc mà người xưa gọi là thượng gia hạ kiều, nghĩa là nhà trên cầu dưới.
Dù là cầu giao thông nhưng vẫn có mái che, phản ánh cách tư duy kiến trúc cung đình thời Lê sơ.
Tiếp theo là Bia Vĩnh Lăng, một trong những văn bia đáng kính nhất còn lại của lịch sử Việt Nam. Cả bia và rùa đá nặng gần mười tám tấn. Tấm bia tạc từ một khối đá trầm tích biển nguyên vẹn.
Bia cao hai mét bảy mươi chín, đặt trên lưng con rùa đá dài ba mét bốn mươi sáu. Đây là bảo vật quốc gia.
Điều khiến bia này đặc biệt nhất không phải là kích thước mà là tác giả. Đó là Nguyễn Trãi, nhà thơ, nhà chính trị, nhà quân sự thiên tài của dân tộc Việt Nam.
Ông phụng soạn bài văn bia này để ghi lại toàn bộ thân thế, sự nghiệp và công đức của vua Lê Thái Tổ. Đây là văn bản lịch sử gốc, viết thẳng lên đá từ thế kỷ mười lăm cho đến nay vẫn còn nguyên vẹn.
Chính điện Lam Kinh là công trình khiến nhiều người phải đứng lặng khi bước vào. Đây là công trình gỗ lim lớn nhất Việt Nam hiện nay.
Toàn bộ kết cấu gồm sáu hàng cột với một trăm ba mươi tám chân đá tảng, tổng diện tích một nghìn sáu trăm bốn mươi lăm mét vuông.
Chính điện được phục dựng năm hai nghìn mười trên chính nền móng nguyên gốc từ thế kỷ mười lăm. Những cột lim lớn nhất có đường kính sáu mươi hai xăng ti mét.
Chính điện gồm ba tòa: tòa Quang Đức thờ các hoàng đế, tòa Sùng Hiếu có ngai vàng và áo long bào của vua, tòa Diên Khánh là nơi nghỉ ngơi của vua khi về bái yết tổ tiên.
Một chi tiết trong tòa Diên Khánh rất đáng chú ý. Một trong các cột cái lớn ở đây được làm từ một cây lim tự đổ trong chính rừng Lam Kinh, ước tính khoảng sáu trăm năm tuổi. Người ta gọi đó là cây lim hiến thân.
Với cây cột ấy, thay vì mang gỗ nơi khác về, người thợ đã dùng chính cây lim từ rừng di tích. Đó là cách cái cũ nuôi cái mới ngay trên mảnh đất của nó.
Trong khu di tích có tất cả năm bia đá được công nhận là bảo vật quốc gia. Đó là Bia Vĩnh Lăng ở lăng vua Lê Thái Tổ, Bia Chiêu Lăng ở lăng vua Lê Thánh Tông, Bia Dụ Lăng ở lăng vua Lê Hiến Tông.
Hai bia còn lại là Bia Kính Lăng ở lăng vua Lê Túc Tông, và Bia Khôn Nguyên Chí Đức của hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, mẹ của vua Lê Thánh Tông.
Và rồi đến Vĩnh Lăng, nơi an nghỉ của vua Lê Thái Tổ. Lăng đặt theo thế phong thủy đặc biệt: phía trước là khoảng minh đường rộng với tiền án núi Chúa, phía sau gối lưng núi Dầu.
Hai bên có dãy núi bao bọc tạo thế hổ phục rồng chầu.
Trước lăng là hai hàng tượng đá gồm tượng quan hầu và linh vật, nghê, ngựa, tê giác, hổ.
Ngay bên cạnh lăng có cây ổi mà người dân địa phương gọi là cây ổi biết cười. Cây được cung tiến vào năm một nghìn chín trăm ba mươi ba bởi ông Trần Hưng Dẫn ở thôn Hành Thiện, Nam Định.
Đến năm hai nghìn lẻ một, người ta mới nhận ra chính điều kỳ lạ ấy: chỉ một cái gãi nhẹ vào thân hoặc chạc ba là cả tán lá rung lên, còn thân và cành vẫn lặng im.
Nhà thơ Hoàng Ngọc Phác đặt tên cây ổi cười vào cuối năm đó.
Năm hai nghìn lẻ tám, Bộ Khoa học và Công nghệ lập đề án nghiên cứu cấp quốc gia, nhưng đến nay vẫn chưa có kết luận khoa học chính thức.
Cây gần một trăm năm tuổi, không phải cây ngàn năm từ thời vua Lê như có người đồn đại.
Lam Kinh không phải nơi để đến trong vội vàng. Nơi đây có không gian giữa núi rừng Thanh Hóa, không khí yên tĩnh, tán lá của mười tám cây di sản, tiếng gió qua đồi cỏ và mùi nhang từ điện thờ xa xa.
Đây là nơi mà mỗi bước đi đều nhắc cả nhà rằng có một thế kỷ mười lăm oai hùng từng diễn ra ở chính vùng đất Thanh Hóa này, và những người đã làm nên lịch sử đó vẫn đang an nghỉ dưới những vạt đất quen thuộc quanh đây.