Thành Nhà Hồ
Cả nhà thử nghĩ về con số này: ba tháng.
Ba tháng để hoàn thành một tòa thành với chu vi ba rưỡi cây số, toàn bộ xây bằng đá, mỗi khối đá nặng trung bình mười đến hai mươi tấn. Không có xi măng. Không có vữa. Không có máy móc hiện đại. Chỉ có hàng chục nghìn nhân công từ hai trăm chín mươi tư vùng đất khắp cả nước được huy động về đây vào đầu năm một nghìn ba trăm chín mươi bảy. Và khi tòa thành hoàn thành, nó đã đứng vững hơn sáu trăm năm, qua chiến tranh, qua địa chấn, cho đến tận ngày hôm nay.
Đó là Thành Nhà Hồ, hay còn gọi là Tây Đô, tọa lạc tại huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Người cho xây tòa thành này là Hồ Quý Ly, một đại thần nắm quyền thực sự vào cuối thời Trần. Ông chọn vùng đất Vĩnh Lộc này theo nguyên lý phong thủy: thành nằm giữa hai con sông là sông Mã và sông Bưởi, với núi án ngữ bốn phía. Phía bắc là núi Tường Sơn, phía nam là núi Đốn Sơn. Phía đông là Hắc Khuyển sơn, phía tây là Ngưu Ngọa sơn. Ông đặt tên kinh đô mới là Tây Đô để phân biệt với Thăng Long là Đông Đô. Năm một nghìn bốn trăm, Hồ Quý Ly phế truất vua Trần và lập nên nhà Hồ. Nhưng triều đại chỉ tồn tại bảy năm trước khi quân Minh từ phương Bắc tràn xuống tiêu diệt nhà Hồ vào năm một nghìn bốn trăm lẻ bảy.
Tòa thành mất đi chức năng kinh đô, bị bỏ hoang qua nhiều thế kỷ. Nhưng bức tường đá thì vẫn còn đó.
Ngày hai mươi bảy tháng sáu năm hai nghìn không trăm mười một, tại kỳ họp của Ủy ban Di sản Thế giới tại Paris, Thành Nhà Hồ được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới. Đây là di sản thứ năm của Việt Nam được UNESCO công nhận. UNESCO ghi nhận tòa thành theo hai tiêu chí. Tiêu chí thứ nhất là về sự giao thoa các giá trị nhân văn: Thành Nhà Hồ thể hiện tư tưởng Nho giáo muộn qua quy hoạch đô thị và kiến trúc vào cuối thế kỷ mười bốn. Tiêu chí thứ hai là về kiến trúc xuất sắc: đây là ví dụ hiếm có của một kinh đô phong kiến Đông Á thời trung đại. Vừa là trung tâm quyền lực chính trị, vừa là pháo đài quân sự, với kỹ thuật xây đá không vữa ở quy mô lớn.
Bí quyết tồn tại hơn sáu trăm năm nằm ở cách xếp đá. Người thợ xưa đục đẽo từng phiến đá vuông vắn rồi xếp so le theo kiểu chữ công, cả chiều ngang lẫn chiều dọc. Cách xếp đó tạo ra lực ma sát cơ học giữa các khối đá, thay thế hoàn toàn cho vữa kết dính. Phiến đá trung bình dài một rưỡi đến hai mét, có phiến dài tới sáu bảy mét. Phiến nặng nhất ước tính hơn hai mươi sáu tấn. UNESCO đánh giá đây là một trong những thành tựu kỹ thuật xây dựng đá xuất sắc nhất khu vực Đông Á thời trung đại.
Cổng Nam là phần được bảo tồn tốt nhất và ấn tượng nhất của tòa thành. Cổng dài hơn ba mươi ba mét, cao gần mười mét, với ba cửa vòm cuốn đá. Cửa giữa dành cho vua và quan lại cao cấp, rộng gần sáu mét và cao gần sáu mét. Hai cửa bên hẹp hơn một chút. Điều đặc biệt là những phiến đá trên vòm cửa được đục theo hình múi bưởi và xếp khít theo hình quạt, cũng hoàn toàn không cần chất kết dính. Từ năm hai nghìn không trăm mười tám đến năm hai nghìn không trăm hai mươi, Quỹ Bảo tồn Văn hóa của Đại sứ quán Hoa Kỳ đã hỗ trợ chín mươi hai nghìn năm trăm đô la Mỹ để tu bổ cổng Nam.
Có một chi tiết về thiết kế mà UNESCO đặc biệt ghi nhận như một dấu hiệu của bản sắc riêng. Tất cả các kinh thành chịu ảnh hưởng Trung Hoa thường có trục chính hướng bắc nam. Nhưng trục chính của Thành Nhà Hồ lại lệch đi để thẳng với núi Đốn Sơn ở phía nam, nơi Hồ Quý Ly cho xây Đàn Tế Nam Giao vào năm một nghìn bốn trăm lẻ hai. Đây là nơi vua làm lễ tế Trời, nghi lễ thiêng liêng nhất của các triều đại phong kiến phương Đông. Sự lệch trục này không phải sai lầm mà là lựa chọn có chủ đích. Nó phản ánh cách người Việt thích nghi và điều chỉnh tư tưởng kiến trúc từ bên ngoài cho phù hợp với địa hình và truyền thống của mình.
Khi cả nhà đứng trước Cổng Nam và nhìn lên những khối đá xanh ngàn xưa, hãy thử nghĩ lại về con số đó: ba tháng. Bao nhiêu bàn tay, bao nhiêu đôi vai, bao nhiêu cặp mắt đã đong đếm từng phiến đá, nâng lên, xếp xuống, canh từng góc độ để đảm bảo cả tòa thành đứng vững mà không cần một giọt vữa nào. Tòa thành đứng vững sáu trăm năm. Nhà Hồ chỉ tồn tại bảy năm. Nhưng kỹ thuật và ý chí của những người thợ đá ấy đã vượt qua mọi triều đại, mọi chiến tranh, để đến với chúng ta hôm nay.