Chuyen.AIPlaylist
Hà Nội

Làng cổ Đường Lâm

0:000:00

Cách trung tâm Hà Nội khoảng năm mươi cây số về phía tây, có một ngôi làng mà lịch sử Việt Nam đã hai lần ghé qua.

Lần đầu là thế kỷ thứ tám, khi một người con của làng này tên Phùng Hưng đứng dậy chống lại nhà Đường đô hộ, đánh chiếm thành Tống Bình, tức Hà Nội ngày nay, giành quyền tự chủ trong khoảng bảy năm. Sau khi ông mất năm bảy trăm chín mươi mốt, ông được tôn một tên hiệu đặc biệt: Bố Cái Đại Vương. Chữ Bố nghĩa là cha, chữ Cái nghĩa là mẹ trong tiếng Việt cổ. Cha mẹ vĩ đại của dân. Cách xưng tôn hiếm có trong lịch sử.

Lần thứ hai là năm chín trăm ba mươi tám, khi một người con khác của làng tên Ngô Quyền, sinh năm tám trăm chín mươi tám, chỉ huy đoàn thuyền chiến trên sông Bạch Đằng. Ông cho cắm cọc gỗ đầu nhọn dưới đáy sông, lợi dụng thuỷ triều lên xuống, đánh tan đoàn thuyền quân Nam Hán. Chiến thắng đó kết thúc hơn một nghìn năm Bắc thuộc. Năm sau Ngô Quyền lên ngôi, đặt kinh đô ở Cổ Loa, cách Đường Lâm khoảng bốn mươi cây số về phía đông. Ông ở ngôi không lâu. Năm chín trăm bốn mươi tư, chỉ năm năm sau ngày lên ngôi, ông mất.

Hai vị vua cùng sinh ra ở một ngôi làng nhỏ. Cùng một mảnh đất, hai lần đưa người con của mình bước vào sử sách.

Đó là lý do Đường Lâm được gọi là "đất hai vua". Và đó là lý do ngày mười chín tháng năm năm hai nghìn không trăm lẻ sáu, đúng dịp sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đường Lâm trở thành ngôi làng đầu tiên ở Việt Nam được Nhà nước cấp Bằng Di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia.

Nhưng Đường Lâm không chỉ là nơi để nhớ tên hai vị vua. Nó còn là nơi để nhìn xem người Việt đã sống như thế nào trong ba, bốn trăm năm qua.

"Làng cổ Đường Lâm" thực ra là năm thôn liền kề nhau: Mông Phụ ở trung tâm, Đông Sàng, Cam Thịnh, Đoài Giáp, và Cam Lâm. Mỗi thôn có nhân vật và câu chuyện riêng.

Vật liệu xây dựng đặc trưng nhất ở đây là đá ong. Không phải đá khai thác từ mỏ. Đây là loại đất sét chứa sắt và nhôm, tích tụ hàng triệu năm trong lòng đất vùng trung du Bắc Bộ. Người dân đào lên khi còn mềm, cắt thành từng viên nặng khoảng hai mươi kilôgam, rồi đem phơi nắng. Phơi khô, đá cứng dần, và bề mặt lộ ra các lỗ nhỏ như tổ ong, vì vậy gọi là đá ong. Tường nhà, cổng làng, bờ rào đều xây bằng loại đá này. Viên đá nào trên những bức tường ấy cũng từng mềm như đất, rồi được nắng làm cho cứng lại.

Cổng làng Mông Phụ đứng trước mặt cả nhà xây năm một nghìn tám trăm ba mươi ba, thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn. Một cổng vòm cổ điển, xây chủ yếu bằng đá ong. Đi qua cổng này là bước vào một nhịp sống khác.

Đình Mông Phụ xây năm một nghìn sáu trăm tám mươi tư, đời vua Lê Hy Tông. Tức là ngôi đình đã gần ba trăm năm mươi năm tuổi. Ngôi đình còn nhiều tuổi hơn cổng làng Mông Phụ gần một trăm năm mươi năm. Kiến trúc đình Việt truyền thống với năm gian, mái cong đầu đao, và các bức chạm gỗ chủ đề rồng phượng hoa lá tinh xảo. Cột, kèo, xà đều bằng gỗ. Đây là loại kiến trúc mà các vùng ngoại ô đô thị đang mất dần.

Sang làng Đông Sàng, vào Chùa Mía. Tên chữ là Sùng Nghiêm tự. Vùng đất này xưa có tên Nôm là Mía, nên người ta quen gọi là Chùa Mía. Năm một nghìn sáu trăm ba mươi hai, bà Nguyễn Thị Ngọc Dao, phi thiếp của chúa Trịnh Tráng thế kỷ mười bảy, đã bảo trợ một lần trùng tu lớn cho chùa. Người dân tôn gọi bà là Bà Chúa Mía.

Điều đặc biệt ở Chùa Mía là hai trăm tám mươi bảy pho tượng thờ. Trong đó một trăm bảy mươi tư tượng đất nung sơn son thếp vàng, một trăm lẻ bảy tượng gỗ, sáu tượng đồng. Đây là một trong những chùa có nhiều tượng nhất miền Bắc. Từ lần trùng tu năm một nghìn sáu trăm ba mươi hai do Bà Chúa Mía bảo trợ đến nay đã gần bốn trăm năm.

Sang làng Cam Lâm, nơi có Đền Phùng Hưng và Đền cùng Lăng Ngô Quyền. Nhiều người cho rằng đây chỉ là lăng tượng trưng, được xây để có nơi thờ tự, vì lăng thật của Ngô Quyền đã thất lạc qua hơn nghìn năm. Nhưng đền thờ vua Ngô vẫn là nơi người dân thành kính đến.

Làng còn giữ những món ăn của riêng mình. Có gà Mía, giống gà bản địa của Đường Lâm, thịt thơm và chắc. Có thịt quay đòn, có chè lam, kẹo lạc, và cả tương Đường Lâm.

Ngôi làng vẫn là ngôi làng, không phải bảo tàng. Cổng đá ong vẫn đứng đó từ năm một nghìn tám trăm ba mươi ba. Đình vẫn mở ngày lễ. Và người dân vẫn trồng chuối, làm tương, nuôi gà Mía như trăm năm trước. Những trưa nắng, các bức tường đá ong vẫn đứng hong mình dưới trời, như thuở chúng còn là đất mềm chờ nắng làm cho cứng lại.

Câu chuyện liên quan