Chuyen.AIPlaylist
Bắc Ninh

Làng nghề gỗ Đồng Kỵ

0:000:00

Cả nhà thử đặt câu hỏi này trước khi bước vào làng.

Một làng buôn trâu bò, trồng lúa, dệt vải ở vùng Kinh Bắc đã trở thành địa danh nổi tiếng toàn quốc về đồ gỗ mỹ nghệ như thế nào? Đó không phải câu hỏi đơn giản, và câu trả lời chính là thứ làm cho Đồng Kỵ trở nên đáng tham quan hơn bất kỳ bộ sưu tập đồ gỗ nào.

Đồng Kỵ còn gọi là làng Cời, nay gắn với phường Đồng Nguyên, tỉnh Bắc Ninh. Báo Bắc Ninh xếp gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ vào nhóm làng nghề nổi tiếng nhất của tỉnh. Nhưng trước khi là làng gỗ, Đồng Kỵ từng có một đời sống khác hẳn.

Theo nghiên cứu đăng trên Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, trước năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, làng Đồng Kỵ nổi bật nhất với nghề buôn trâu bò giữa các tỉnh miền Bắc, bên cạnh nông nghiệp và dệt vải. Nghề buôn này dừng vào năm một nghìn chín trăm sáu mươi trong bối cảnh chính sách kinh tế thời đó. Làng phải tìm hướng đi mới. Từ cuối thập niên một nghìn chín trăm sáu mươi, người Đồng Kỵ bắt đầu chuyển sang mua bán, chế tác đồ gỗ cổ và giả cổ. Họ mời thợ từ các làng nghề mộc lân cận như Phù Khê, Hương Mạc, Thiết Úng và thợ khảm trai từ Chuyên Mỹ về cùng làm. Từ đó hình thành mạng lưới sản xuất, gia công và kinh doanh. Đến năm một nghìn chín trăm tám mươi, nghề gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ phát triển mạnh, với thị trường Sài Gòn và Campuchia là hai đầu ra lớn.

Đó là câu chuyện về một làng biết thích nghi. Không chờ ai cứu, tự tìm hướng thoát và tạo ra một nghề từ con số không.

Nhưng nếu chỉ nhìn vào đồ gỗ thương mại, chúng ta bỏ qua lớp văn hóa quan trọng hơn của Đồng Kỵ. Đó là cụm đình, đền, chùa, những công trình nói lên đời sống tinh thần của làng qua nhiều thế kỷ.

Đình Đồng Kỵ là điểm dừng đầu tiên đáng chú ý. Nguồn du lịch chính thống mô tả đây là công trình kiến trúc mang đặc trưng nghệ thuật thế kỷ mười tám, với khung gỗ lim và hệ chạm khắc các đề tài tứ linh, tứ quý. Đình được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa từ năm một nghìn chín trăm tám mươi tám. Trong đình còn treo bức đại tự khắc bốn chữ "Mỹ tục, khả phong", tức "phong tục tốt đẹp, đáng khen". Bức đại tự này do vua Tự Đức phong tặng cho làng Đồng Kỵ vào năm một nghìn tám trăm bảy mươi mốt. Một ngôi làng được vua ban chữ khen vì có phong tục tốt đẹp, điều đó không phải làng nào cũng có.

Cả nhà cũng chú ý đến những bức chạm gỗ trong đình. Rồng, phượng, lân, quy, tứ quý cây hoa, cả những chi tiết nhỏ như hoa lá, mây trời, làn sóng. Đây chính là thứ mỹ thuật gỗ truyền thống mà làng đã mang vào sản phẩm thương mại sau này. Nghề gỗ mỹ nghệ không xuất hiện từ không khí. Nó có nền tảng thẩm mỹ gắn liền với không gian tín ngưỡng của chính làng đó.

Lễ hội làng Đồng Kỵ diễn ra từ mùng bốn đến mùng sáu tháng Giêng âm lịch. Nghi thức nổi bật nhất là rước pháo, được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia vào năm hai nghìn mười sáu. Rước pháo là nghi thức biểu tượng để tưởng niệm cuộc ra quân đánh giặc của Thiên Cương tướng quân, Thành hoàng làng Đồng Kỵ. Cả nhà lưu ý: đây là nghi lễ văn hóa, không phải đốt pháo theo nghĩa thông thường.

Đền Đồng Kỵ thờ Đức Thánh Thiên Cương. Theo Thông tin du lịch Bắc Giang, đền nằm trong cụm di tích đình, đền, chùa Đồng Kỵ và nhìn ra sông Ngũ Huyện Khê. Phía sau đền là không gian mở ra dòng sông, tạo cảm giác thoáng đãng khác hẳn không gian đình.

Chùa Đồng Kỵ, tên chữ Tây Am tự, là điểm cuối trong cụm di tích. Ngoài giá trị kiến trúc, chùa còn có cây hương đá dựng năm một nghìn sáu trăm bảy mươi chín và chuông đồng đúc năm một nghìn tám trăm hai mươi hai. Trong giai đoạn một nghìn chín trăm bốn mươi đến một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, chùa Tây Am tự còn là nơi nuôi giấu cán bộ cách mạng, một vai trò ít người biết khi nhắc đến một ngôi chùa làng Kinh Bắc.

Đồng Kỵ là ví dụ sống về một điều đặc biệt của làng Việt. Một làng có thể giữ được đình, đền, chùa hàng thế kỷ, giữ lễ hội truyền thống, đồng thời cũng biết chuyển mình hoàn toàn theo thị trường khi cần. Hai thứ đó không mâu thuẫn nhau. Cái nền văn hóa vững chắc chính là thứ cho phép làng thay đổi mà không mất gốc.

Câu chuyện gần đây