Chuyen.AIPlaylist
Đà Nẵng

Làng gốm Thanh Hà

0:000:00

Cả nhà đang bước vào một làng mà nếu nhìn lên mái ngói trong phố cổ Hội An, sẽ thấy bàn tay của nơi này. Phần lớn những viên ngói âm dương lợp mái các nhà cổ ba trăm năm tuổi ở phố Hội An đều do làng Thanh Hà sản xuất. Từ thế kỷ mười bảy đến thế kỷ mười chín, gạch và ngói từ đây liên tục chảy theo sông Thu Bồn về xây dựng thương cảng quốc tế Hội An. Làng gốm đã góp phần dệt nên diện mạo di sản thế giới.

Làng gốm Thanh Hà có lịch sử hơn năm trăm năm. Theo gia phả các dòng họ trong làng, tổ tiên người Thanh Hà di cư từ tỉnh Thanh Hóa vào Hội An vào cuối thế kỷ mười lăm, đầu thế kỷ mười sáu, sau khi nhà Lê bình Champa năm một nghìn bốn trăm bảy mươi mốt. Họ mang theo nghề làm gốm, gạch, ngói và lập nghiệp ngay bên bờ sông Thu Bồn, vì nơi đây có đất sét tốt, nước dồi dào, và thuận tiện vận chuyển sản phẩm đường thủy.

Tên Thanh Hà có thể được hiểu là "sông của người Thanh Hóa", Thanh là Thanh Hóa, Hà là sông. Đây là dấu ấn của đợt di dân từ Bắc vào Nam, mang cả nghề nghiệp và bản sắc quê hương tới vùng đất mới.

Bí quyết của gốm Thanh Hà nằm ở đất sét bùn sông Thu Bồn, dẻo, mịn, không có tạp chất sạn. Nghệ nhân lấy đất ven sông, phơi khô, giã mịn, trộn nước, ủ trước khi nặn. Sau đó đốt trong lò củi truyền thống ở nhiệt độ cao trong vài ngày. Kết quả là sản phẩm màu nâu đỏ tự nhiên ấm áp, đây là gốm đất nung, tiếng Anh gọi là terracotta, không tráng men. Đây là điểm khác biệt rõ nhất so với gốm Bát Tràng ngoài Hà Nội thường có tráng men màu sắc.

Bây giờ cả nhà nhìn vào bàn xoay của nghệ nhân kia. Bàn xoay này không dùng điện. Nghệ nhân ngồi, dùng chân đạp xoay bánh dưới, tay nặn đất trên mặt bàn xoay. Hai tay và hai chân cùng phối hợp, điều này cần nhiều năm luyện tập mới thuần thục. Kỹ thuật bàn xoay đạp chân là đặc trưng truyền thống của Thanh Hà. Nhiều xưởng hiện đại đã chuyển sang bàn điện cho hiệu suất cao hơn, nhưng các xưởng truyền thống vẫn giữ bàn đạp chân.

Ngày hai mươi bảy tháng tám năm hai nghìn không trăm mười chín, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đưa Nghề gốm Thanh Hà vào Danh mục Di sản Văn hóa Phi vật thể Quốc gia. Không chỉ kỹ thuật làm gốm được công nhận, mà còn cả kho tàng tri thức dân gian đặc trưng: cách chọn đất theo mùa, cách ủ đất, cách nung cho từng loại sản phẩm. Làng còn có những thuật ngữ nghề nghiệp riêng mà người ngoài nghe không hiểu: "đốt non", "đốt già", "miết bàn", "vét đất". Đây là di sản phi vật thể sống trong ngôn ngữ.

Sản phẩm của Thanh Hà rất đa dạng: nồi đất, niêu cá kho, chum tương, vại nước dùng trong bếp; tượng mười hai con giáp, tượng tôn giáo dùng trang trí và thờ cúng; và đặc sản đặc trưng nhất là tò he đất, con tò he bằng đất nung có thể thổi kêu được. Tò he đất Thanh Hà này khác hoàn toàn với tò he bột gạo nhuộm màu của Hà Nội. Đây là đồ đất nung thổi kêu được, còn tò he Hà Nội là bột gạo nếp nặn hình.

Phần thú vị nhất của chuyến thăm là Công viên Đất nung Thanh Hà, bảo tàng gốm thu nhỏ lớn nhất Việt Nam, rộng khoảng năm nghìn mét vuông. Người sáng lập là kiến trúc sư Lê Đức Hạ, người con của chính làng Thanh Hà này. Sau khi thành đạt ở đô thị, ông quay về đầu tư công viên để vinh danh nghề gốm quê hương. Trong công viên, cả nhà sẽ thấy Tháp Eiffel, Đấu trường La Mã, Khải Hoàn Môn, Văn Miếu Hà Nội, Chùa Một Cột, tất cả thu nhỏ bằng đất nung Thanh Hà. Một cách kết hợp di sản truyền thống với nghệ thuật đương đại rất độc đáo.

Nếu cả nhà muốn thử, có thể ngồi vào bàn xoay cùng nghệ nhân và tự tay nặn một chiếc cốc, một lọ nhỏ hay một tượng đất. Cảm giác lần đầu tiên hai bàn tay chạm vào khối đất đang xoay, và từ từ thấy hình dáng hiện ra dưới ngón tay mình, là điều không dễ quên.

Làng gốm Thanh Hà, hơn năm trăm năm đất và lửa, vẫn còn đây giữa lòng di sản Hội An. Mỗi viên ngói trên mái nhà phố cổ là một dấu tay của người thợ xưa. Và đâu đó trong làng, một người thợ vẫn đang ngồi đạp bàn xoay, tay cảm nhận từng nhịp thở của đất sét, nối tiếp nghề của tổ tiên từ nửa thiên niên kỷ trước.

Câu chuyện gần đây