Lăng Minh Mạng
Có những nơi mà bước vào, cả nhà cảm ngay được một trật tự. Không phải trật tự đơn giản của kẻ mạnh bắt người yếu phải phục tùng, mà là trật tự của một vũ trụ quan đã được dịch ra thành đá gạch gỗ ngói. Hiếu Lăng, lăng của vua Minh Mạng, là nơi như vậy.
Minh Mạng, tên thật Nguyễn Phúc Đảm, là vua thứ hai nhà Nguyễn. Con thứ tư của Gia Long. Sinh năm một nghìn bảy trăm chín mươi mốt. Lên ngôi năm một nghìn tám trăm hai mươi ở tuổi hai mươi chín. Trị vì hai mươi mốt năm cho đến khi băng hà ngày hai mươi tháng một năm một nghìn tám trăm bốn mươi mốt ở tuổi bốn mươi chín. Ông được nhiều nhà sử học đánh giá là vua xuất sắc nhất triều Nguyễn: chia toàn quốc thành ba mươi tỉnh, lập lục bộ theo mô hình Trung Hoa, đổi quốc hiệu thành Đại Nam năm một nghìn tám trăm ba mươi tám. Ông cũng là người có con nhiều nhất trong sử Việt, một trăm bốn mươi hai người con từ bốn mươi ba phi tần.
Lăng do vua Thiệu Trị, con cả và người kế vị Minh Mạng, cho xây từ năm một nghìn tám trăm bốn mươi đến một nghìn tám trăm bốn mươi ba. Khoảng mười nghìn thợ và lính được huy động. Diện tích mười tám héc-ta với bốn mươi công trình bố trí đối xứng tuyệt đối qua một trục dài khoảng bảy trăm mét. Đây là điểm khác biệt quan trọng nhất của Hiếu Lăng so với Khiêm Lăng của Tự Đức. Nơi này đối xứng hoàn hảo, từng công trình bên trái đều có đôi ở bên phải.
Trước cổng Đại Hồng Môn, cả nhà lưu ý một chi tiết: cánh cổng chính giữa này đã đóng vĩnh viễn. Nó chỉ được mở đúng một lần, để đưa quan tài vua Minh Mạng vào lăng ngày hai mươi tháng tám năm một nghìn tám trăm bốn mươi mốt, rồi đóng mãi. Khách tham quan phải đi qua hai cổng phụ hai bên.
Bước vào sân Bái Đình, cả nhà thấy gạch Bát Tràng và hai hàng tượng đá: quan văn, quan võ, voi và ngựa đứng chầu hai bên. Tiếp tục là nhà bia Bi Đình với tấm bia Thánh Đức Thần Công, do chính vua Thiệu Trị tự viết để ca ngợi công đức của cha mình. Đây là truyền thống Nho giáo mà triều Nguyễn duy trì qua nhiều đời: Minh Mạng viết bia cho Gia Long, Thiệu Trị viết cho Minh Mạng, Tự Đức viết cho Thiệu Trị. Một mạch chữ Hiếu liên tục.
Rồi đến điểm cả nhà sẽ nhớ mãi: hồ Trừng Minh và ba cây cầu đá.
Hồ Trừng Minh có nghĩa là hồ trong sáng, hình bán nguyệt, trồng sen. Và có ba cây cầu bắc qua hồ. Cầu Trung Đạo ở giữa, dành riêng cho vua. Cầu Tả Phù bên trái, dành cho quan văn. Cầu Hữu Bật bên phải, dành cho quan võ. Ba cây cầu, ba đẳng cấp, không nhầm lẫn. Đó là Nho giáo cổ điển được đúc vào đá. Và hôm nay, cả nhà chúng ta đều có thể đi trên cầu Trung Đạo, vì hôm nay chúng ta là khách, không phải thần dân.
Tiếp tục đi lên là Minh Lâu, tức lầu sáng, đứng trên gò có ba tầng đất gọi là Tam Tài: Trời, Đất và Người. Theo truyền thuyết, vua Minh Mạng đã nói sẽ lên đây nhìn trăng ngắm sao sáng tác thơ trong đêm hè. Tiếc thay, vua mất ở tuổi bốn mươi chín, chưa kịp đến lăng nghỉ ngơi dù một lần.
Cuối trục là hồ Tân Nguyệt, tức trăng non, hình bán nguyệt. Và Bửu Thành ở giữa: khu mộ hình tròn. Bán nguyệt ôm tròn, âm ôm dương, bộ đôi biểu tượng của sự đầy đủ và vĩnh hằng trong triết học Đông phương. Cả nhà hãy đứng lại một lúc trước Bửu Thành và nhìn ngược về phía sau. Bố cục toàn lăng hiện ra như hình một người nằm nghỉ: đầu tựa núi Kim Phụng phía tây, chân duỗi ra ngã ba Bằng Lãng phía đông, hai cánh tay là hai hồ Trừng Minh và Tân Nguyệt. Vua Minh Mạng đã khảo sát phong thuỷ vùng núi Cẩm Kê này nhiều năm trước khi chọn.
Từ mặt nước sông Hương nhìn vào, với núi đồi bao quanh và trục lăng khuất dần vào rừng thông, cả nhà sẽ hiểu vì sao người ta nói Hiếu Lăng là đỉnh cao của nghệ thuật quy hoạch lăng tẩm phương Đông. Không phải vì nó to lớn, mà vì nó hoàn chỉnh đến mức không còn gì để thêm, và không còn gì để bớt.