Lăng Minh Mạng
Một cánh cổng cao hơn chín mét, rộng mười hai mét, có ba lối đi và hai mươi bốn mái ngói xếp tầng tầng lớp lớp. Vậy mà cánh cổng ấy chỉ mở ra đúng một lần.
Đó là Đại Hồng Môn, cổng chính của Hiếu Lăng, nơi yên nghỉ của vua Minh Mạng giữa núi đồi xứ Huế. Ngày hai mươi tháng tám năm một nghìn tám trăm bốn mươi mốt, cổng mở để đưa quan tài nhà vua vào lăng. Rồi cổng khép lại, và khép mãi từ hôm ấy. Người đến thăm hôm nay đi qua hai cổng phụ hai bên, ngoái nhìn những cánh cửa im lìm, và bất giác muốn hỏi: người nằm sau cánh cổng ấy là ai, mà được tiễn đưa trang trọng đến vậy?
Người ấy tên thật là Nguyễn Phúc Đảm, con thứ tư của vua Gia Long. Ông chào đời ngày hai mươi lăm tháng năm, năm một nghìn bảy trăm chín mươi mốt. Năm một nghìn tám trăm hai mươi, ông lên ngôi, trở thành vua Minh Mạng, vị vua thứ hai của nhà Nguyễn. Trong hai mươi mốt năm trị vì, ông chia cả nước thành ba mươi tỉnh, cùng phủ Thừa Thiên là vùng kinh đô. Năm một nghìn tám trăm ba mươi tám, ông quyết định đổi quốc hiệu từ Việt Nam thành Đại Nam. Nhiều nhà sử học đánh giá ông là một vị vua tài giỏi, và thời ông trị vì là giai đoạn hưng thịnh của nhà Nguyễn.
Vua Minh Mạng còn là người có nhiều con nhất trong sử Việt: một trăm bốn mươi hai người con, gồm bảy mươi tám hoàng tử và sáu mươi tư hoàng nữ. Đông đến mức, nếu các hoàng tử và hoàng nữ cùng ngồi vào lớp, phải xếp kín mấy lớp học mới đủ chỗ.
Ngày hai mươi tháng một năm một nghìn tám trăm bốn mươi mốt, vua Minh Mạng băng hà ở tuổi bốn mươi chín. Đất đặt lăng thì chính nhà vua đã chọn từ trước. Ông cho người tìm đất và cân nhắc ròng rã nhiều năm, rồi mới chọn vùng núi Cẩm Kê làm nơi mình sẽ nằm lại.
Lăng đã được khởi công từ năm một nghìn tám trăm bốn mươi, khi nhà vua còn tại vị. Người con cả nối ngôi, vua Thiệu Trị, cho làm tiếp lăng của cha. Công trình kéo dài đến năm một nghìn tám trăm bốn mươi ba, với gần mười nghìn thợ và lính được huy động. Công trường mênh mông ấy hẳn đã rộn tiếng đục đá, tiếng gọi nhau í ới, bụi gạch bay trong nắng. Khi quan tài vua cha đi qua Đại Hồng Môn vào tháng tám năm một nghìn tám trăm bốn mươi mốt, những người thợ ấy vẫn còn làm tiếp, gần hai năm nữa lăng mới hoàn thành.
Khu lăng rộng chừng hai chục héc ta. Khoảng bốn mươi công trình lớn nhỏ được xếp đối xứng tuyệt đối dọc theo một trục dài khoảng bảy trăm mét. Công trình nào bên trái cũng có một người anh em sinh đôi bên phải. Nếu gấp đôi tấm bản đồ khu lăng theo đường trục ấy, các công trình ở hai nửa sẽ khít vào nhau như hai cánh bướm.
Qua cổng phụ, sân Bái Đình mở ra trước mặt, mỗi chiều bốn mươi lăm mét, lát gạch Bát Tràng. Hai hàng tượng đá đứng chầu hai bên: quan văn, quan võ, voi và ngựa. Đi giữa hai hàng tượng, nghe tiếng bước chân mình vang trên nền gạch, ta có cảm giác như đang đi qua một buổi chầu đã lặng im từ rất lâu.
Kế đó là Bi Đình, tức nhà bia. Bên trong đặt tấm bia Thánh Đức Thần Công, do chính vua Thiệu Trị tự viết để ca ngợi công đức của cha mình. Đây là truyền thống Nho giáo mà nhà Nguyễn giữ qua nhiều đời. Chính vua Minh Mạng từng viết bia như thế cho vua cha Gia Long. Nay đến lượt người con viết cho cha mình, thành một mạch chữ Hiếu nối tiếp giữa các đời vua.
Xa hơn nữa là hồ Trừng Minh. Trừng Minh nghĩa là trong và sáng. Hồ trồng sen, mặt nước phẳng lặng soi bóng trời. Bắc qua hồ là ba cây cầu đá.
Cầu Trung Đạo ở giữa, dành riêng cho vua. Cầu Tả Phù bên trái, dành cho quan văn. Cầu Hữu Bật bên phải, dành cho quan võ. Ba cây cầu, ba thứ bậc, không ai được bước nhầm. Đó là Nho giáo cổ điển được đúc vào đá. Còn hôm nay, cả nhà mình đều có thể thong thả đi trên cầu Trung Đạo, vì hôm nay chúng ta là khách, không phải thần dân.
Bên kia hồ, Minh Lâu hiện ra, tòa lầu sáng hai tầng đứng trên gò Tam Tài. Gò được đắp thành ba tầng đất, tượng trưng cho Trời, Đất và Người. Đứng dưới chân gò ngước lên, ta thấy tòa lầu như được nâng bổng lên giữa trời.
Người xưa kể rằng vua Minh Mạng từng nói, mai này sẽ lên Minh Lâu nhìn trăng ngắm sao trong những đêm hè. Nhưng vua mất ở tuổi bốn mươi chín, chưa kịp về lăng nghỉ ngơi dù chỉ một lần. Thế nên mỗi đêm trăng, tòa lầu sáng vẫn đứng đó, như còn đợi một người chưa kịp đến.
Cuối trục là hồ Tân Nguyệt. Tân Nguyệt nghĩa là trăng non, và hồ cũng cong như một vầng trăng non, hình bán nguyệt. Nằm trong vòng cong ấy là Bửu Thành, khu mộ hình tròn. Bán nguyệt ôm lấy hình tròn, như mặt trăng ôm lấy mặt trời. Người ta ví hồ là âm, bao bọc và che chở cho Bửu Thành là dương.
Hãy đứng lại trước Bửu Thành một lúc, rồi quay người nhìn ngược về phía cổng. Người ta vẫn ví bố cục cả khu lăng như dáng một người đang nằm nghỉ. Đầu tựa vào núi Kim Phụng. Chân duỗi ra tận ngã ba Bằng Lãng. Hai nửa hồ Trừng Minh, hai bên đường trục, là hai cánh tay buông thả.
Từ phía sông Hương đi vào, núi đồi bao quanh, và sau Bửu Thành là cả một rừng thông xanh thẫm. Người ta xem Hiếu Lăng là một trong những lăng tẩm đẹp và chuẩn mực bậc nhất của triều Nguyễn. Không phải vì nó to lớn, mà vì nó hoàn chỉnh đến mức không còn gì để thêm, cũng không còn gì để bớt.
Và ở đầu trục, Đại Hồng Môn vẫn khép, hai mươi bốn mái ngói lặng im dưới trời Huế, giữ trọn lời hẹn chỉ mở một lần.