Lăng Ông Bà Chiểu
Cả nhà biết không, có một câu chuyện lịch sử đặc biệt ẩn sau cái tên quen thuộc này.
Nhiều người vẫn nghĩ "Bà Chiểu" là tên người vợ của Tả quân Lê Văn Duyệt. Thực ra không phải. "Bà Chiểu" là tên địa danh của khu vực, gần Chợ Bà Chiểu. Lăng nằm gần chợ, người dân gọi tắt thành "Lăng Ông Bà Chiểu". Vợ của Ông tên là Đỗ Thị Phẫn. Bà được chôn song táng với chồng ngay trong khu lăng này. Hai ngôi mộ nằm song song phía sau đền thờ.
Vậy Tả quân Lê Văn Duyệt là ai mà dân Sài Gòn tôn thờ đến thế?
Ông sinh năm một nghìn bảy trăm sáu mươi tư tại vùng Định Tường, nay là Tiền Giang. Từ nhỏ vào triều làm hoạn quan, phục vụ chúa Nguyễn Ánh trong những năm tháng gian khó nhất, kể cả thời gian lánh nạn ở Xiêm La, tức Thái Lan ngày nay. Ông cùng Nguyễn Ánh đánh thắng nhà Tây Sơn năm một nghìn tám trăm lẻ hai, thống nhất đất nước. Là một trong các đệ nhất khai quốc công thần của triều Nguyễn.
Năm một nghìn tám trăm mười hai, vua Gia Long giao cho ông làm Tổng trấn Gia Định Thành, chức quan cao nhất ở Nam Bộ. Ông giữ chức này hai mươi năm liên tục. Trong hai mươi năm đó, ông mở mang đất Nam Bộ, khai khẩn vùng Sài Gòn, Đồng Nai, Định Tường, Vĩnh Long. Ông có chính sách khoan dung với đạo Công giáo, cho phép các giáo sĩ Pháp truyền đạo ở miền Nam, khác hẳn chính sách bài Công giáo của vua Minh Mạng sau này. Ông duy trì quan hệ ngoại giao tốt với Cao Miên và Xiêm La. Người Nam Bộ tôn ông là "Đức Thượng Công", phẩm trật công thần cao nhất triều Nguyễn.
Ông mất năm một nghìn tám trăm ba mươi hai. Vua Minh Mạng truy phong. Tưởng rằng cuộc đời ông kết thúc trong vinh quang.
Nhưng ba năm sau, năm một nghìn tám trăm ba mươi lăm, thảm kịch xảy ra.
Con nuôi của Tả quân là Lê Văn Khôi đã khởi nghĩa chống Minh Mạng từ năm một nghìn tám trăm ba mươi ba. Khôi chiếm Sài Gòn ba năm, liên kết với Xiêm La và các giáo sĩ Pháp. Đến năm một nghìn tám trăm ba mươi lăm, Minh Mạng dẹp xong. Hơn một nghìn tám trăm ba mươi mốt người bị tử hình. Và vua đổ tội cho Tả quân Lê Văn Duyệt, người đã mất được ba năm, rằng ông đã bao che con nuôi nổi loạn.
Vua sai phá mộ Tả quân. Dựng bia đá lớn khắc dòng chữ: "Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xử", nghĩa là "Tại đây nằm hoạn quan Lê Văn Duyệt phải chịu phép". Bia đứng trên mộ bị phá của một người đã chết ba năm trước.
Đây là một trong những sự kiện chính trị bi thảm nhất của triều Nguyễn.
Sáu năm sau, năm một nghìn tám trăm bốn mươi mốt, vua Thiệu Trị lên ngôi thay Minh Mạng. Ông giải oan cho Tả quân. Bia tội bị tháo xuống. Lăng được xây lại với quy mô lớn hơn. Năm một nghìn tám trăm bốn mươi tám, đền thờ và lăng hoàn thành. Người dân Sài Gòn từ đó tổ chức tế lễ hằng năm.
Từ đó đến nay, Lăng Ông Bà Chiểu là một trong những đền thiêng nhất Sài Gòn. Người miền Nam tôn ông như một vị thần phù trợ cho công danh và tài lộc. Thương nhân, doanh nhân, công chức, sinh viên đổ về đây đầu năm cầu may. Lễ Khai hạ - Cầu an vào mùng bảy tháng Giêng âm lịch là lễ lớn nhất, được công nhận Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia năm hai nghìn không trăm hai mươi hai.
Lăng xếp hạng Di tích Lịch sử cấp Quốc gia ngày mười sáu tháng mười một năm một nghìn chín trăm tám mươi tám, cùng ngày với Chùa Giác Lâm gần đó.
Khi đứng trước cổng Thượng Công Miếu, cả nhà hãy nhớ: đây không chỉ là đền thờ một anh hùng. Đây là chứng nhân của một bi kịch lịch sử và sự giải oan muộn màng. Một con người đã mất ba năm mới được minh oan. Nhưng người dân Sài Gòn đã không quên ông ngay cả khi triều đình còn gắn bia tội lên mộ ông.