Lê Như Hổ
Ở làng Tiên Châu vùng Hưng Yên ngày xưa, có một nhà mỗi bữa phải bắc một nồi cơm to đến lạ. To đến mức nấu xong, cả nồi cơm ấy bằng cơm của mấy gia đình cộng lại. Vậy mà nồi cơm khổng lồ đó chỉ nấu cho đúng một người ăn.
Người ăn hết nồi cơm to ấy là một cậu con trai, tên Lê Như Hổ. Cha mẹ cậu nghèo, nhưng thương con ham học, nên dù chạy vạy đến đâu cũng cố lo cho cậu cơm đèn ăn học. Chỉ có điều, cậu ăn khỏe quá. Người xưa kể rằng mỗi bữa cậu ngồi vào là hết veo một nồi cơm nấu bảy đấu gạo, ăn xong vẫn còn thấy thường. Nhà vốn đã thiếu trước hụt sau, nuôi cái sức ăn ấy chỉ được nửa năm là thùng gạo cạn đáy, chẳng còn hột nào.
Cha mẹ thương con mà đành ngậm ngùi. Nuôi mãi thì lấy đâu ra gạo, mà bắt con nhịn thì cậu học sao vào. Nghĩ đi nghĩ lại, ông bà mới lo cho cậu sang ở rể một nhà khá giả trong làng Thiện Phiến, mong bên ấy dư dả, con mình được no bụng mà yên chuyện đèn sách.
Nhà bên vợ nghe tiếng cậu học trò chăm chỉ thì bằng lòng. Nhưng đến khi cậu về ở, dọn mâm ra, cả nhà mới tá hỏa. Một mình cậu ăn bằng mấy miệng ăn. Ông bà nhạc nhìn nhau, trong bụng vừa lo vừa ái ngại. Của cải dẫu nhiều, ai mà chẳng xót khi thấy cơm gạo vơi đi trông thấy mỗi bữa. Thế là nhà vợ bèn bớt lại, mỗi bữa chỉ dọn cho cậu một nồi cơm nhỏ hơn ở nhà.
Lạ thay, từ hôm ăn ít đi, cậu rể chăm chỉ ngày nào bỗng đổi khác hẳn. Sách vở gấp lại một xó. Cậu ăn xong là lăn ra ngủ, gọi cũng ậm ừ, người lúc nào cũng uể oải như tàu lá héo. Nhà vợ thấy vậy thì thất vọng lắm, thầm nghĩ hay là mình gả nhầm phải một anh chàng lười biếng, chỉ được cái tiếng hay chữ.
Chuyện đến tai cha ruột của cậu. Ông vội tìm sang, hỏi han một hồi rồi mới thủng thẳng thưa với ông bà nhạc. Ông bảo, cháu nó không lười đâu. Cái tạng cháu vốn ăn khỏe lạ thường, ở nhà mỗi bữa phải no một nồi bảy mới đủ sức mà chong đèn học tới khuya. Sang bên này ăn chưa được nửa bụng, người rã rời thì còn đầu óc đâu mà nhớ mặt chữ. Với riêng cái thân ăn khỏe của cháu, bụng có no thì chữ mới chịu vào.
Ông bà nhạc nghe ra, bán tín bán nghi, nhưng cũng muốn thử một phen. Từ hôm ấy, nhà cho cậu ăn thật no, no đến lúc cậu tự buông đũa. Và quả nhiên, cậu học trò họ Lê như biến thành người khác. Đèn nhà cậu khuya nào cũng sáng. Tiếng đọc sách đều đều vọng ra tới tận sân, hết canh này sang canh khác. Cái anh chàng nằm dài ngủ ngày hôm trước, giờ miệt mài đến quên cả trời sáng.
Nhà vợ mừng thì có mừng, nhưng trong bụng vẫn còn gợn một chút. Ăn thì khỏe thế, học thì chăm thế, chứ ra đồng ra bãi liệu có làm được trò trống gì không, hay chỉ giỏi ngồi một chỗ. Nghĩ vậy, ông bà bèn giao cho chàng rể mấy đám ruộng bỏ hoang lâu ngày, cỏ mọc rậm rì cao quá đầu gối, bảo chàng ra đó phát dọn cho quang.
Sáng hôm sau, chàng ăn một bữa thật lực cho chắc dạ, rồi vác dao ra đồng. Nhưng ra tới nơi, chàng lại tìm gốc cây có bóng mát, ngả lưng đánh một giấc ngon lành. Người nhà đi ngang, thấy chàng rể nằm ngủ giữa đồng, cỏ vẫn nguyên si, thì lắc đầu chép miệng, bụng bảo dạ đúng là chỉ được cái ăn.
Nào ngờ, xế trưa chàng tỉnh dậy, vươn vai một cái rồi bắt tay vào việc. Hai cánh tay đưa dao đi thoăn thoắt, cỏ rậm cao ngồng cứ rạp xuống như có cơn gió lớn thổi qua. Chàng làm một mạch không nghỉ. Đến lúc mặt trời gác núi, cả ba đám ruộng hoang đã sạch bong, quang đãng, đất lật lên đen nhánh. Cỏ dưới nước bị dọn tứ tung, cá tôm trong ruộng cũng theo đó mà nổi lên lềnh bềnh. Người nhà ra xem, ai nấy trố mắt, không tin nổi từng ấy việc chỉ một người làm gọn trong nửa buổi chiều.
Chưa hết. Đến mùa lúa chín rộ, nhà cần gặt gấp mà kêu mãi không đủ người. Thuê tới hai mươi người gặt vẫn còn thiếu tay, lúa thì chín rục ngoài đồng, sốt cả ruột. Chàng rể chỉ cười, bảo cả nhà cứ để đó cho con. Chàng ăn một bữa no nê, rồi một mình ra đồng. Tay gặt, vai gánh, chàng đi như con thoi giữa ruộng và sân. Lúa chín đầy đồng là thế, vậy mà chưa hết một ngày, trước khi trời kịp tối, chàng đã gặt xong, gánh về sân phơi đâu vào đấy.
Đến nước này thì ông bà nhạc hết cả nghi ngờ, chỉ còn biết thương và quý chàng rể hết mực. Hóa ra cái nồi cơm to tướng ngày nào không phải cái để chê, mà là cái nuôi nên một đôi tay làm bằng mấy người, một cái đầu học một biết mười. Chàng ăn của nhà bao nhiêu, chàng trả lại bằng công sức bấy nhiêu, lại còn dư ra tấm lòng chăm chỉ hiếu thuận.
Người đời sau kể rằng, cái tên Như Hổ cũng từ chuyện ăn mà ra. Số là trong vùng còn có một người bạn cũng nổi tiếng ăn khỏe không kém. Một bận hai người gặp nhau, dọn cơm ra cùng ăn cho biết tài nhau. Người bạn ăn đã vào hạng cự phách. Vậy mà nhìn chàng ung dung ăn hết mâm này sang mâm khác, vẫn thong thả như không, người bạn phải buông đũa mà thán phục, rằng sức ăn của anh mạnh như hổ vậy. Từ đó người ta gọi chàng là Lê Như Hổ, nghĩa là họ Lê ăn khỏe như hổ.
Về sau, nhờ những đêm chong đèn miệt mài ấy, Lê Như Hổ thi đỗ, ra làm quan, rồi làm đến chức lớn trong triều. Có lần ông được cử đi sứ sang phương Bắc. Vua nước lớn nghe đồn sứ nước Nam ăn khỏe lạ thường, bèn cho bày một bữa tiệc thật nhiều mâm cỗ chồng lên nhau, cốt để thử xem hư thực thế nào. Ông ngồi vào, cứ điềm nhiên ăn hết mâm nọ đến mâm kia, gương mặt vẫn thong dong lịch thiệp như đang nhấp một chén trà. Cả triều đình bên ấy nhìn nhau kinh ngạc, rồi đổi sự nghi ngại ban đầu thành lời khâm phục sứ thần nước Nam vừa giỏi giang vừa đường hoàng.
Người ta nhớ Lê Như Hổ, đâu phải để đếm xem ông ăn hết mấy nồi cơm. Cái nồi cơm to tướng ngày xưa từng làm bao người khiếp, hóa ra lại nuôi nên một con người làm khỏe bằng mấy người, học giỏi hơn người, và biết lấy công đền ơn. Ở làng Tiên Châu, mỗi khi có ai vội chê một người chỉ vì trông cái tướng ăn, các cụ lại cười mà nhắc nhau, rằng chớ vội đo một con người bằng cái bát cơm của họ.