Lưu Nhân Chú
Sương buổi sáng trên núi Đại Từ, Thái Nguyên phủ trắng những sườn đồi. Tiếng suối chảy vọng lên từ thung lũng phía dưới. Hơn sáu trăm năm trước, một người đàn ông tên Lưu Nhân Chú đã nhìn cảnh này lần cuối trước khi khoác áo ra đi, mang theo lòng căm giặc và lời hẹn sẽ trở về.
Cả nhà ơi, đó là hành trình của một người con miền núi đã chọn bước vào ngọn lửa kháng chiến từ những ngày đầu tiên, khi ngọn lửa còn le lói và mong manh.
Lưu Nhân Chú sinh tại làng An Thuận Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Vùng núi đồi phía bắc, cách kinh thành Thăng Long một khoảng đường không ngắn. Gia đình ông có gốc từ thời nhà Trần, tổ tiên từng giữ tước hầu, nhưng đến đời ông thì nhà đã sa sút. Cha ông là Lưu Trung, cũng đầy nhiệt huyết, cũng không chịu được cảnh đất nước bị nhà Minh cai trị.
Khoảng năm một nghìn bốn trăm lẻ chín, cha con đã tìm đường vào Thanh Hóa, đến Khả Lam tìm gặp Lê Lợi. Hai người từ núi rừng Thái Nguyên vượt đèo dốc và rừng già vào tận miền Trung, chỉ để nói một câu: chúng tôi muốn cùng nhau đánh giặc.
Đó là hành trình của lòng tự nguyện.
Ngày mồng một tháng hai năm một nghìn bốn trăm mười sáu, tại Lũng Nhai, Lê Lợi triệu tập những người thân tín để cùng thề giải phóng đất nước. Lưu Nhân Chú có mặt trong số đó. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, ông là một trong mười tám người dự hội thề Lũng Nhai, từ đó trở thành hạt nhân đầu tiên của nghĩa quân Lam Sơn.
Nhưng chưa phải lúc đánh ngay. Lê Lợi giao ông quay về Thái Nguyên chiêu mộ trai tráng, tích trữ lương thực và ngựa chiến trong hai năm. Người đàn ông ấy lại vượt đường dài về núi, đi từng làng từng bản, thuyết phục dân rừng núi rằng đã đến lúc đứng lên.
Năm một nghìn bốn trăm mười tám, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa. Lưu Nhân Chú trở lại cùng đoàn quân từ Thái Nguyên.
Cả nhà ơi, trong mười năm kháng chiến, ông tham gia hầu hết các chiến dịch lớn. Năm một nghìn bốn trăm hai mươi tư, tại ải Khả Lưu vùng Nghệ An, ông xung phong lên đầu, lập công trong trận đánh trực diện vào quân Minh. Năm một nghìn bốn trăm hai mươi lăm, ông cùng Đinh Lễ, Lê Sát, Lý Triện vây đánh thành Tây Đô. Ông chỉ huy hai nghìn quân tinh nhuệ và ba voi chiến, tiêu diệt năm trăm quân địch, được thăng hàm Thông Hầu.
Nhưng trận đánh để đời nhất diễn ra năm một nghìn bốn trăm hai mươi bảy, tại Chi Lăng.
Nhà Minh phái viện binh một trăm nghìn quân từ phương Bắc, do tướng Liễu Thăng cầm đầu. Đây là đòn có thể lật ngược cục diện. Lưu Nhân Chú cùng Lê Sát bàn mưu mai phục tại Chi Lăng, con đèo hiểm trở nơi địa thế núi rừng có thể biến thành bẫy chết. Họ chọn đúng nơi, đúng lúc. Liễu Thăng tử trận, hai mươi nghìn quân Minh bị tiêu diệt. Đạo viện binh tan vỡ.
Sau chiến thắng năm một nghìn bốn trăm hai mươi tám, khi Lê Lợi lên ngôi vua, Lưu Nhân Chú được phong tước và đổi họ thành Lê. Tháng năm năm một nghìn bốn trăm hai mươi chín, triều đình khắc bảng vàng ghi danh ba mươi lăm vị công thần Lam Sơn. Lưu Nhân Chú đứng thứ năm.
Người đàn ông từ núi rừng Thái Nguyên, xuất thân bình dân, đứng thứ năm trong bảng vàng công thần của cả một triều đại.
Nhưng cuộc đời không dừng ở đó. Năm một nghìn bốn trăm ba mươi ba, chính Lê Sát, người đã cùng ông lập công tại Chi Lăng, vì ganh ghét quyền thế mà ngầm đầu độc ông. Theo Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, oan khuất ấy mãi đến năm một nghìn bốn trăm ba mươi bảy mới được trả, khi vua Lê Thái Tông trưởng thành và xử tử Lê Sát.
Oan được trả, dù muộn.
Năm một nghìn bốn trăm tám mươi tư, vua Lê Thánh Tông truy tặng ông tước Thái phó Vinh quốc công. Đền thờ ông được dựng tại Núi Văn, xã Vân Yên, huyện Đại Từ, Thái Nguyên. Lễ hội hàng năm vào ngày mồng bốn tháng giêng âm lịch vẫn còn được giữ đến hôm nay. Quần thể Núi Văn và Núi Võ nơi đó đã được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia.
Cả nhà ơi, câu chuyện của Lưu Nhân Chú nhắc ta rằng cuộc khởi nghĩa Lam Sơn không chỉ là chuyện của người Thanh Hóa. Đó là cuộc tập hợp của người từ khắp nơi trên đất nước, từ vùng núi Thái Nguyên phía bắc đến những bản làng xa kinh thành hàng trăm cây số. Họ đã chọn lên đường, không phải vì được lệnh, mà vì tự nguyện.
Và trên ngọn núi ở Đại Từ, mỗi sáng đầu năm khi sương còn phủ trắng sườn đồi, người dân vẫn lên thắp hương ở ngôi đền của ông. Lặng lẽ ghi nhớ người đàn ông đã từ nơi này ra đi và không bao giờ quên chỗ mình xuất phát.