Mâm ngũ quả và lời cầu vừa đủ xài
Vì sao nải chuối xanh được đặt dưới cùng để đỡ cả mâm ngũ quả của một nhà ở Hà Nội, mà trên mâm Tết của một nhà trong Nam lại vắng bóng?
Những ngày giáp Tết, các gia đình rủ nhau đi chọn trái cây. Tối ba mươi, nhiều nhà quét dọn nhà cửa xong xuôi mới bắt tay bày mâm, cho kịp lễ giao thừa. Mâm quả ấy rồi sẽ được người lớn đặt lên bàn thờ tổ tiên. Cái mâm ấy là lời nhớ ơn ông bà, như câu ăn quả nhớ kẻ trồng cây, và cũng là lời mong của cả gia đình cho một năm mới.
Ở Hà Nội, người mẹ bày mâm từ dưới lên. Việc đầu tiên là đặt nải chuối xanh xuống đáy mâm, những quả chuối cong lên như một bàn tay ngửa ra đỡ. Chính giữa, chị đặt một quả bưởi tròn. Có nhà lại chọn quả phật thủ. Quanh đó, những quả nhỏ hơn lần lượt vào chỗ: quả đào, quả hồng và quả quýt.
Xếp xong, cái mâm đã nói được mấy lời mong. Dưới đáy, nải chuối mang lời cầu che chở cho cả gia đình. Ở giữa, quả bưởi tròn trịa là lời mong một năm đầy đặn. Nhà nào đặt quả phật thủ, thứ quả có dáng bàn tay Phật, thì giữa mâm là lời xin Phật chở che. Vòng ngoài, quả đào, quả hồng và quả quýt góp sắc đỏ, sắc của hơi ấm và may mắn.
Chị xếp quả so le, quả trên nép vào khe giữa hai quả dưới. Số quả trên mâm, chị chuộng số lẻ. Quả nào mùi quá nồng, có gai hay vỏ sần sùi thì chị để lại, không chọn. Chị cũng tránh thứ quả xanh đến mức qua Tết vẫn chưa ăn được. Nhiều nhà còn cố gom đủ năm sắc trắng, xanh, đen, đỏ và vàng trên cùng một mâm.
Trong Nam, hai vợ chồng cũng bày mâm vào tối ba mươi, nhưng họ bày như người ta viết một câu. Mấy thứ trái họ chọn là mãng cầu, chùm sung, trái dừa, trái đu đủ và trái xoài. Đọc tên các thứ trái ấy liền một hơi, cái mâm biến thành một lời cầu: cầu sung vừa đủ xài.
Mãng cầu cho chữ cầu. Dừa đọc lên nghe gần như chữ vừa. Đu đủ cho chữ đủ. Trái xoài khép câu lại bằng tiếng xài: năm mới trong nhà có đủ để tiêu, để dùng.
Câu ấy mỗi nhà đọc khác nhau đôi chút. Có nhà không bày sung, câu còn lại là cầu vừa đủ xài. Nhà khác lại đặt thêm một trái dứa dưới chân mâm. Người trong Nam gọi trái dứa là trái thơm, nên câu thành cầu thơm vừa đủ xài. Đọc kiểu nào thì câu cũng dừng lại ở vừa đủ xài.
Bên cạnh mâm, hai vợ chồng đặt thêm một cặp dưa hấu, vỏ xanh bọc lấy ruột đỏ. Đồ chưng ngày Tết trong Nam thường đi thành đôi.
Còn nải chuối thì chẳng có chỗ trên mâm ấy. Cứ nghe người trong Nam gọi tên nó là hiểu. Giọng Nam đọc chữ chuối nghe gần như chữ chúi, cái dáng chúi đầu chúi mũi, cắm cúi vất vả quanh năm. Người ta không muốn mâm Tết gợi tới cảnh ấy, nên nải chuối đứng ngoài. Cam với quýt cũng thường vắng mặt, vì chữ cam gợi tới cam chịu, lại có câu quýt làm cam chịu. Kiêng như thế là một trò chơi chữ của dân gian, giống như nhặt từng chữ đẹp cho lời chúc đầu năm.
Riêng quả cam thì được đọc theo hai cách. Ở miền Bắc và trong lời nhà Phật, chữ cam lại mang vị ngọt, cái ngọt đến sau những ngày đắng cay. Người xưa vẫn nói: khổ tận cam lai. Thứ quả bị kiêng ở miền này có khi lại là lời chúc lành ở miền kia.
Ra miền Trung, người bà bày mâm không câu nệ phải đủ thứ nào. Bà theo một câu rất gọn: có gì cúng nấy. Trên mâm của bà hay có thanh long, dưa hấu, mãng cầu, dứa và sung. Có cả nải chuối nữa. Ở đây, chuối chỉ là một trong những thứ quả đang mùa, còn tươi. Người ta thường giải thích cái giản dị ấy bằng nắng gió khắc nghiệt và đất đai khô cằn, hay những năm tháng trái cây hiếm hoi. Mâm nhiều hay ít cũng được, miễn là bà dâng lên bằng tấm lòng thành.
Qua bao nhiêu lần người ta dời nhà từ miền này sang miền kia, mâm quả miền Bắc và mâm quả miền Nam cứ thế trộn vào nhau. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Quách Trọng Trà bảo, cũng vì thế mà mâm ngũ quả hôm nay chẳng còn cái khuôn nào bắt buộc.
Bên trong trái lựu, hạt chi chít, nên người ta hay nhắc tới nó với lời mong con đông cháu đàn. Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng cũng thấy thứ quả nhiều hạt mang mong ước ấy, còn cả mâm thì ôm lấy lời mong nhà cửa hòa thuận, bình yên, đủ đầy.
Dù bày theo lối nào, mâm nào cũng mang chung một cái tên có giấu con số năm: mâm ngũ quả. Nhưng năm thứ ấy là những quả nào thì không ai biết chính xác. Mỗi miền chọn theo nết riêng của mình, chuộng quả ngọt, màu đẹp, to và tròn.
Còn vì sao lại là năm, mỗi người hiểu một cách. Nhìn vào năm sắc trên mâm, có người thấy năm thứ mà người xưa tin là làm nên mọi vật trên đời, gọi chung là ngũ hành. Cũng năm sắc ấy, có người lại lần về một bộ kinh nhà Phật có nhắc tới trái cây năm màu, và thấy ở đó năm gốc lành của lòng người.
Nhìn vào chính con số, có người bảo con số năm là số của chính giữa, số của sự sống. Người khác đặt con số năm vào chỗ sinh, chỗ của mầm nhú, cây lớn và mọi thứ sinh sôi. Còn nhìn vào năm thứ quả, có người thấy năm điều phúc, trong đó có sống lâu, khỏe mạnh và bình yên.
Ý nào cũng có người tin.
Bàn mãi về con số năm, mà mâm Tết bây giờ lại thường có hơn năm thứ quả, có mâm tới chín, mười thứ. Người ta vẫn gọi nó là mâm ngũ quả. Cái tên đứng yên, còn quả trên mâm thì đổi theo từng miền, từng nhà, từng mùa.
Rồi đến ngày hạ mâm sau Tết, người lớn bưng mâm từ bàn thờ xuống, bổ từng quả, chia ra những chiếc đĩa trên mâm cơm. Quả được chọn kỹ từ hôm bày để lúc hạ xuống vẫn còn ăn được, chẳng phí miếng nào. Người ta coi những miếng quả ấy là lộc đầu xuân ông bà ban cho con cháu.
Đến lúc này, lời cầu trên mâm mới thật sự được ăn. Ở Hà Nội là miếng bưởi mọng, trong Nam là lát xoài vàng, ở miền Trung là miếng dưa hấu đỏ. Còn năm thứ quả ấy là gì, mỗi nhà đã tự trả lời bằng cái mâm của mình. Rồi người trong nhà chia nhau ăn, mỗi người một phần, vừa đủ.