Ông Nguyễn Khoa Đăng và bát nước nổi váng dầu
Một bát nước trong được đặt xuống giữa bàn. Có người thả vào đó một nắm tiền đồng, những đồng tiền cũ màu nâu sẫm, kêu lanh canh khi chạm đáy bát. Rồi mọi con mắt cùng nhìn xuống. Trên mặt nước lặng, từ chỗ nắm tiền vừa chìm, bỗng loang ra một lớp váng mỏng, ánh lên bảy sắc như một mảnh cầu vồng tí hon. Đó là dầu. Chỉ một bát nước lã thôi, vậy mà nó sắp nói ra sự thật về một vụ mất trộm mà bao người cãi nhau chẳng ra.
Người bày ra cái bát nước ấy tên là Nguyễn Khoa Đăng. Ông là người có thật, sống hơn ba trăm năm trước, thời các chúa Nguyễn cai quản vùng đất phía nam mà thuở ấy người ta gọi là Đàng Trong. Ông làm một chức quan lớn ở xứ Thuận Hóa, tức là vùng Huế và Quảng Trị bây giờ. Ông xử kiện tài đến mức người đời sau vẫn ví ông với Bao Công, vị quan xử án nổi tiếng công minh trong truyện xưa. Những chuyện kể dưới đây là giai thoại dân gian, được nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi ghi lại, chứ không phải trang sử chép việc quan trường. Ta cứ nghe thong thả như nghe kể chuyện bên hiên nhà.
Người ta kể rằng, ở một khu chợ trong vùng có một anh gánh dầu đi bán dạo. Dầu đựng trong vò, tiền lời gói trong một cái túi nhỏ để bên quang gánh. Một buổi trưa đông khách, anh mải rót dầu, mải thối tiền, đến lúc ngoảnh lại thì cái túi tiền đã biến mất. Cả vốn cả lời trong đó, mất rồi thì lấy gì mà sống.
Anh nhớ ra, nãy giờ quanh gánh dầu của mình có một người ăn xin mù cứ lảng vảng mãi. Anh ngờ người ấy, bèn níu lại. Nhưng người kia giãy nảy kêu oan. Ông ta chỉ vào đôi mắt nhắm nghiền của mình mà rằng, tôi mù lòa thế này, đến đường còn chẳng thấy, thì làm sao biết túi tiền anh giấu chỗ nào mà thò tay lấy được. Nghe cũng có lý. Người trong chợ xúm lại, kẻ bảo phải, người bảo trái, cãi nhau ầm ĩ mà chẳng ai phân xử nổi.
Chuyện đến tai quan Nguyễn Khoa Đăng. Ông cho gọi cả hai người tới, lại sai lấy một bát nước trong. Cả nhà thử đoán cùng ông xem, một bát nước lã thì soi ra được điều gì? Ông bảo người ăn xin mù đưa hết số tiền đang giữ trong người ra, rồi thả từng đồng vào bát nước. Mọi người nín thở nhìn. Và kìa, trên mặt nước từ từ nổi lên một lớp váng dầu óng ánh.
Đến đây thì mọi chuyện sáng ra. Tiền của người bán dầu, ngày ngày nằm bên vò dầu, tay anh lúc nào cũng dính dầu đếm tới đếm lui, nên đồng nào cũng ngấm dầu. Thả xuống nước là dầu nổi lên ngay. Còn tiền của người khác thì làm gì có váng dầu như thế. Số tiền trong người ông ăn xin đúng là số tiền của anh bán dầu vừa mất.
Nguyễn Khoa Đăng nhìn ông ta, ôn tồn hỏi một câu nữa. Ông bảo, ông nói ông mù, không thấy đường, vậy làm sao lần đúng được chỗ anh kia giấu túi tiền giữa bao nhiêu là quang gánh, rồi rút ra gọn gàng đến thế? Người mù thật thì không tài nào làm nổi. Người ăn xin nghe tới đó thì cứng họng. Hóa ra hai con mắt ông ta vẫn sáng, chỉ giả vờ nhắm lại để đi ăn xin và rình lấy trộm. Trước lẽ phải rành rành, ông ta đành mở mắt ra, nhận là mình đã lấy túi tiền, rồi trả lại cho người bán dầu. Chẳng cần lớn tiếng, chẳng cần dọa nạt, một bát nước lã đã đủ gọi sự thật ra ánh sáng.
Nhưng dẹp yên một khu chợ mới chỉ là chuyện nhỏ. Chuyện làm dân xứ Thuận Hóa nhớ ông mãi là chuyện ông làm yên cả một con đường.
Người ta kể rằng, thuở ấy có một khúc đường rừng tên là truông nhà Hồ, nằm ở vùng Quảng Trị. Truông là quãng đường băng qua rừng rậm, vắng vẻ, hai bên cây cối um tùm. Ở đó có một bọn cướp ẩn nấp, chuyên rình lấy của khách buôn qua lại. Lâu dần, ai nghe tới truông nhà Hồ cũng ngại, cũng sợ, chẳng mấy người dám đi. Đường buôn bán vốn tấp nập bỗng vắng tanh, hàng hóa xứ này khó lòng sang được xứ khác. Người ta còn đặt thành câu hát để nhắc nhau, rằng thương nhau thì thương, chứ ai cũng ngán truông nhà Hồ, ngán phá Tam Giang.
Dẹp yên con đường ấy chẳng phải chuyện dễ. Nhưng Nguyễn Khoa Đăng nghĩ ra một mẹo thật lạ. Ông cho thợ đóng những cái hòm gỗ thật to, thật chắc, bên ngoài trông như hòm đựng của cải nhà giàu. Nhưng trong mỗi cái hòm ấy lại giấu một điều mà bọn cướp không tài nào ngờ tới. Trong mỗi hòm là một người lính giỏi võ, mang theo vũ khí, ngồi lọt vừa vặn. Hòm được khoét mấy lỗ nhỏ cho thoáng hơi, lại có chốt cài mở được từ bên trong.
Xong xuôi, ông cho mấy người ăn mặc như dân thường khiêng những cái hòm ấy đi qua truông, vừa đi vừa để lộ ra rằng đây là của cải quý của một nhà giàu đang chuyển đường xa. Bọn cướp trong rừng thấy mồi ngon thì mừng rơn, ùa ra cướp lấy mấy cái hòm, hì hục khiêng về tận hang ổ của chúng, bụng bảo dạ phen này vớ bở.
Nào ngờ, vừa đặt hòm xuống hang, những cái chốt bên trong bật ra một loạt. Các bác lính từ trong hòm nhảy vụt ra, ngay giữa sào huyệt của bọn cướp. Cùng lúc ấy, quân của quan Nguyễn Khoa Đăng đã bí mật lần theo, vây kín bên ngoài. Bọn cướp đang từ thế rình người khác bỗng thành ra bị vây giữa vòng người, ngơ ngác trở tay không kịp, đành chịu thua, không đánh mà tan.
Điều đẹp nhất của câu chuyện lại nằm ở đoạn sau. Bắt được bọn cướp rồi, Nguyễn Khoa Đăng không trả thù ai cả. Ông nghĩ, những người này sa chân đi cướp phần nhiều vì nghèo khó, không có đất cắm dùi. Thế là ông đưa họ tới những vùng đất hoang còn bỏ không, cấp cho ruộng, cho phương tiện, bảo họ khai khẩn làm ăn. Người từng đi chặn đường nay cầm cày vỡ đất. Đất hoang thành ruộng lúa, rừng vắng mọc lên xóm làng. Con đường qua truông nhà Hồ ngày nào đáng sợ là thế, giờ khách buôn lại thong dong qua lại, gánh gồng nói cười.
Truông nhà Hồ và phá Tam Giang đến nay vẫn còn đó, vẫn nằm trên bản đồ vùng Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, để ai đi qua còn nhớ. Và người ta hát nối thêm cho câu hát cũ một vế mới, rằng phá Tam Giang thì nay đã cạn, còn truông nhà Hồ thì đã có quan Nội tán giữ cho yên. Con đường ngày nào vắng tanh vì nỗi sợ, giờ lại đầy tiếng gánh gồng, tiếng nói cười của khách buôn qua lại, dưới bóng những xóm làng vừa mọc lên bên rừng.