Bảo tàng Khmer Sóc Trăng
Năm một nghìn chín trăm ba mươi sáu, tại thành phố Sóc Trăng, người Pháp đồng ý tài trợ xây một tòa nhà cho cộng đồng Khmer tụ họp. Năm một nghìn chín trăm bốn mươi mốt, tòa nhà khánh thành với cái tên Hội Samacum. Trong tiếng Khmer, Samacum có nghĩa là hội đồng, hội họp. Đây là nơi sư sãi và đồng bào Khmer Nam Bộ có chỗ đứng chính thức, chỗ gặp gỡ, chỗ bàn thảo những chuyện của cộng đồng mình vào cuối thời Pháp thuộc.
Hơn tám mươi năm sau, tòa nhà đó vẫn đứng nguyên tại số hai mươi ba đường Nguyễn Chí Thanh, cách Chùa Khleang nổi tiếng chỉ năm trăm mét. Bây giờ nó mang tên Phòng Trưng bày Văn hóa Khmer, thuộc Bảo tàng tỉnh Sóc Trăng. Và đây là một trong những nơi tốt nhất để hiểu về người Khmer Krom, người Khmer sống ở miền Nam Việt Nam.
Người Khmer Krom, chữ Krom có nghĩa là phương Nam, là cộng đồng dân tộc thiểu số chính thức của Việt Nam. Họ có tổ tiên chung với người Khmer Campuchia từ vương quốc Phù Nam và Chân Lạp cổ đại, nhưng đã sống trên mảnh đất đồng bằng sông Cửu Long qua nhiều thế kỷ và mang bản sắc riêng. Sóc Trăng cũ là nơi có đông người Khmer nhất cả nước, chiếm khoảng ba mươi phần trăm dân số.
Cả nhà có tò mò không, người Khmer ăn mặc ra sao khi đến chùa hay trong lễ hội?
Phụ nữ Khmer mặc Sampot, trang phục quấn quanh thân từ ngực hoặc eo, thêm Sbai là dải lụa vắt qua vai. Kết hợp với trang sức vàng bạc hoa văn dân tộc, bộ trang phục truyền thống Khmer có vẻ đẹp riêng không nhầm lẫn được với bất kỳ văn hóa nào khác.
Nhạc cụ Khmer cũng là điểm nhấn của bảo tàng. Có đàn Chapey hai dây dài, nhạc cụ truyền thống gắn với những người hát kể chuyện lang thang khắp làng. Có trống Sa-dam dùng trong lễ hội. Có dàn nhạc Pinpeat gồm năm đến chín nhạc cụ kết hợp, dàn nhạc cổ điển của người Khmer từ thời vương quốc Angkor.
Và trong bảo tàng có mô hình ghe Ngo, thứ mà cả nhà nhất định phải dừng lại ngắm.
Ghe Ngo là chiếc thuyền dài hai mươi lăm đến ba mươi mét, mũi cong vểnh lên, thân được vẽ hình rồng và Naga, với năm mươi đến sáu mươi người chèo ngồi đều hai bên. Mỗi chùa Khmer có một chiếc. Quy trình chế tạo mất từ sáu đến mười hai tháng, từ việc chọn thân cây Sao to đến đẽo, sơn, vẽ trang trí. Đây không phải công cụ đi lại thông thường. Đây là biểu tượng danh dự của chùa, chỉ hạ thủy vào dịp lễ Ok Om Bok ngày rằm tháng mười âm lịch để đua trên sông Maspero ở Sóc Trăng.
Ai từng đứng xem đua ghe Ngo một lần đều không quên được. Năm mươi người chèo đồng loạt theo nhịp trống, chiếc ghe dài phóng trên sông, tiếng reo hò của hàng chục nghìn khán giả hai bên bờ. Đó là lễ hội Khmer lớn nhất Sóc Trăng, cũng là lễ cúng Trăng theo truyền thống nông nghiệp lúa nước của người Khmer.
Bên cạnh ghe Ngo, bảo tàng còn giới thiệu hai hình thức sân khấu đặc trưng Khmer. Rô băm là kịch múa cổ điển dùng mặt nạ, kể chuyện thần thoại và cổ tích, trang nghiêm và uy nghi. Dù kê là hài kịch dân gian dí dỏm, kể chuyện đời sống và giáo dục, vui nhộn và gần gũi hơn. Hai hình thức này cùng tồn tại, phục vụ các tầng lớp khán giả khác nhau từ thời cổ đại đến nay.
Ba lễ hội lớn của người Khmer được trưng bày kỹ qua ảnh và mô hình. Chol Chnam Thmay vào ngày mười ba đến mười lăm tháng tư dương lịch là Tết Khmer, người ta đắp núi cát, tắm Phật, đua bò. Sen Dolta vào tháng chín âm lịch là lễ cúng tổ tiên ba ngày. Ok Om Bok vào rằm tháng mười âm lịch là lễ cúng Trăng với cốm dẹp và đèn nước.
Tòa nhà Hội Samacum, bây giờ là Phòng Trưng bày Văn hóa Khmer, không chỉ là nơi trưng bày đồ vật. Nó là bằng chứng của sự tồn tại bền vững của một cộng đồng. Từ Hội Samacum năm một nghìn chín trăm bốn mươi mốt, qua Nhà Truyền thống Khmer sau năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm, qua Bảo tàng Văn hóa Khmer năm một nghìn chín trăm chín mươi hai, đến Phòng Trưng bày hôm nay, tòa nhà đã đổi tên nhiều lần nhưng người Khmer Sóc Trăng vẫn ở đây, tiếng trống Sa-dam vẫn vang, ghe Ngo vẫn xuống sông mỗi mùa Ok Om Bok.
Nếu cả nhà đến Sóc Trăng và muốn hiểu người Khmer trước khi bước vào bất kỳ ngôi chùa nào, hãy bắt đầu từ tòa nhà này trên đường Nguyễn Chí Thanh, nơi tiếng trống Sa-dam vẫn vang trong từng hiện vật và chiếc ghe Ngo vẫn chờ mùa nước lên.