Nhà hát Cao Văn Lầu và Khu lưu niệm Đờn ca tài tử Nam Bộ
Có những địa danh gắn liền với một âm thanh. Ở Bạc Liêu, người ta nhắc đến tên Cao Văn Lầu và ngay lập tức nghe thấy tiếng đàn trong ký ức.
Nhưng trước khi đến câu chuyện âm nhạc, cả nhà cần biết một chi tiết địa lý quan trọng. Cụm điểm văn hóa gắn với nhạc sĩ Cao Văn Lầu và Đờn ca tài tử Nam Bộ tại Bạc Liêu cũ, nay thuộc tỉnh Cà Mau, thực ra gồm hai địa điểm khác nhau. Nhà hát Cao Văn Lầu nằm ở khu đường Hùng Vương, phường Bạc Liêu, theo văn bản Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau năm hai nghìn không trăm hai mươi sáu. Còn Khu lưu niệm nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ và nhạc sĩ Cao Văn Lầu nằm trên đường Ninh Bình, phường hai cũ của thành phố Bạc Liêu. Hai nơi liên quan với nhau nhưng khác địa chỉ.
Nhà hát Cao Văn Lầu là biểu tượng kiến trúc hiện đại của khu vực. Hình khối ba nón lá cách điệu trên mái đã trở thành dấu hiệu nhận biết của Bạc Liêu ngày nay. Hình nón lá gợi nhớ đời sống Nam Bộ và người nghệ sĩ. Khi nhìn từ ngoài vào, đây là điểm mở đầu câu chuyện về không gian văn hóa nghệ thuật của vùng đất này.
Còn để hiểu sâu hơn về nhạc sĩ Cao Văn Lầu, cả nhà cần đến Khu lưu niệm trên đường Ninh Bình. Năm hai nghìn không trăm mười ba, tỉnh phê duyệt mở rộng, tôn tạo khu này trên diện tích hơn mười hai héc ta với các hạng mục như nhà trưng bày, mộ nhạc sĩ, nhà biểu diễn Đờn ca tài tử, vườn nhạc cụ và tượng nhạc sĩ. Năm hai nghìn không trăm mười bốn, khu lưu niệm được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Điểm đáng chú ý đầu tiên khi bước vào khuôn viên là Đài Nguyệt Cầm. Theo nguồn Hội Nhà báo tỉnh Bạc Liêu cũ, cầu thang lên đài có ba mươi hai bậc, tượng trưng cho sự phát triển của bản nhạc Dạ cổ hoài lang từ nhịp hai lên vọng cổ nhịp bốn, tám, mười sáu, ba mươi hai và sáu mươi tư. Trên đài có hai mươi mốt chậu kiểng đại diện cho hai mươi mốt tỉnh, thành phố nơi Đờn ca tài tử phát triển mạnh. Đây là cách người thiết kế kể lại lịch sử âm nhạc bằng ngôn ngữ kiến trúc.
Sau Đài Nguyệt Cầm là tượng nhạc sĩ Cao Văn Lầu đang ôm đàn kìm. Đây là nơi mở câu chuyện về người nhạc sĩ và tác phẩm của ông. Các nguồn địa phương gắn bản Dạ cổ hoài lang với tên ông và xem đây là một trong những nền tảng quan trọng của vọng cổ và cải lương Nam Bộ.
Vườn nhạc cụ là điểm tiếp theo, nơi mười hai loại nhạc cụ dân tộc được khắc bằng đá xanh. Theo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, nghệ thuật Đờn ca tài tử sử dụng bộ nhạc cụ gồm đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, đàn tỳ bà, song lang, đàn bầu và sáo. Khi đứng ở vườn này, cả nhà đang nhìn thấy dàn nhạc của một di sản.
Đờn ca tài tử Nam Bộ, nghệ thuật âm nhạc có gốc học thuật và dân gian, được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm hai nghìn không trăm mười ba. UNESCO mô tả đây là nghệ thuật gắn với đời sống tinh thần của cư dân Nam Bộ trong lễ hội, giỗ chạp và các dịp vui. Điểm đặc biệt là người đàn, người ca không chỉ lặp lại bài bản mà còn ứng tác, luyến láy, trang trí giai điệu để bộc lộ cảm xúc. Đây là di sản sống, không phải hiện vật trong tủ kính.
Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam cho biết Đờn ca tài tử phát triển ở Nam Bộ từ cuối thế kỷ mười chín, có hai mươi bài tổ và bảy mươi hai bài nhạc cổ.
Hằng năm vào Rằm tháng tám, lễ hội Dạ cổ hoài lang được tổ chức tại khu lưu niệm. Tiếng đàn, tiếng ca vang lên dưới ánh trăng, đúng như tên bản nhạc đã hẹn từ hơn trăm năm trước.
Khi kết thúc tham quan, có thể nhớ rằng Bạc Liêu cũ, nay thuộc tỉnh Cà Mau, không chỉ có câu chuyện Công tử Bạc Liêu hay điện gió. Vùng đất này còn là một cửa ngõ để hiểu âm nhạc Nam Bộ: từ bản Dạ cổ hoài lang đến vọng cổ, cải lương và Đờn ca tài tử mà thế giới đã ghi nhận.