Nói dóc gặp nhau
Con đường ra chợ huyện dài hun hút, hai bên là ruộng lúa đang thì con gái, xanh mượt tới tận chân trời. Nắng đổ vàng trên mặt đường bụi. Giữa trưa vắng vẻ, chỉ nghe tiếng dế rả rích và tiếng chân người lộp cộp trên đường khô.
Từ đầu này con đường, một người đàn ông đi tới, tay chống cây gậy tre, dáng đi thong dong. Từ đầu kia, một người đàn ông khác cũng đang bước lại gần, vai vác một cái tay nải. Hai người mỗi lúc một gần nhau, rồi gặp nhau đúng chỗ gốc đa giữa đường, cùng dừng chân ngồi nghỉ cho mát.
Hai người này, tuy chưa từng quen biết, lại có chung một cái tật giống hệt nhau. Đó là cái tật kể chuyện to hơn sự thật một chút. Con cá câu được bao giờ cũng dài thêm một gang. Buồng chuối ngoài vườn hái về bao giờ cũng sai thêm mấy nải. Cái tật ấy, ở làng quê mình thuở xưa, người trong xóm gọi vui là nói dóc. Mà khổ nỗi, mỗi người lại cứ đinh ninh trong bụng rằng khắp vùng này, chỉ có mình mới là kẻ nói dóc tài nhất.
Ngồi nghỉ dưới bóng đa mát rượi, hai người bắt chuyện. Đầu tiên chỉ là dăm câu bâng quơ, chuyện nắng chuyện mưa, chuyện đường sá xa xôi. Nhưng chỉ được một lúc, cái tật cũ trong mỗi người lại ngứa ngáy, chực trỗi dậy.
Người vác tay nải hắng giọng, kể trước. Anh ta chỉ tay về phía dòng sông xa xa đang lấp lóa sau rặng tre, rồi thong thả mở lời.
Bác tính, tôi đi đây đi đó nhiều, trông thấy lắm thứ lạ lùng. Nhưng lạ nhất đời tôi là một chiếc thuyền. Chao ôi, một chiếc thuyền dài không thể nào tưởng tượng nổi.
Người chống gậy nhướn mày, ra vẻ tò mò, hỏi lại rằng thuyền dài đến đâu mà ghê gớm vậy. Người vác tay nải được thể, càng kể càng hăng.
Dài đến thế này. Có một chàng trai vừa tròn hai mươi tuổi, đứng ở mũi thuyền, bắt đầu cất bước đi về phía đuôi. Anh ta đi mãi, đi mãi. Đi đến khi tới được giữa thuyền, chỗ có cây cột buồm, ngoảnh lại thì râu tóc đã bạc trắng như cước tự bao giờ.
Người chống gậy chép miệng, gật gù ra chiều thán phục. Người vác tay nải thấy đối phương có vẻ nể mình, lại càng khoái chí, bèn kể nốt cho trọn.
Mà chàng trai ấy vẫn chưa đi hết đâu. Anh ta cứ lầm lũi đi tiếp về phía đuôi thuyền. Đi cho đến lúc lưng còng, chân run, rồi nằm xuống nhắm mắt xuôi tay vì tuổi già, mà vẫn chưa hề trông thấy cái đuôi thuyền nó nằm ở chỗ nào. Bác bảo, chiếc thuyền ấy có phải là dài nhất thiên hạ không.
Người chống gậy nghe xong, chỉ mỉm cười. Anh ta không hề tỏ vẻ kinh ngạc, lại còn ung dung vuốt cằm, như thể chuyện chiếc thuyền dài kia chẳng có gì đáng nói. Người vác tay nải thấy vậy thì hơi cụt hứng, bụng nghĩ thầm, quái lạ, sao anh này nghe chuyện tày trời như thế mà mặt cứ tỉnh bơ.
Thì ra người chống gậy cũng đang chờ đúng lúc này. Anh ta khoan thai đặt cây gậy tre xuống, chỉ tay lên trời, rồi cất giọng.
Chiếc thuyền của bác dài thật đấy. Nhưng bác đã thấy gì đâu. Tôi thì tôi trông thấy một cái cây. Một cái cây cao khủng khiếp. Cao đến nỗi chim trời bay ngang cũng chỉ tới lưng chừng thân nó là đã mỏi cánh, còn cái ngọn thì lút hẳn vào chỗ mây trắng vẫn bay qua, chẳng ai đoán nổi nó còn vươn tới đâu.
Người vác tay nải bật cười, cho là bạn đường nói lấy được. Anh ta hỏi vặn, cây thì cao được đến bao nhiêu mà gớm ghê đến vậy. Người chống gậy chỉ chờ có thế, bèn thủng thẳng kể.
Để tôi kể bác nghe cho tường tận. Trên ngọn cái cây ấy có một con chim làm tổ. Một hôm, con chim vô ý đánh rơi một cái hạt từ trên cành xuống. Cái hạt ấy cứ rơi mãi, rơi mãi. Rơi được một quãng thì nó gặp mưa gặp nắng, liền nảy mầm, bén rễ ngay giữa lưng chừng trời, rồi lớn thành một cái cây con, đơm hoa kết quả hẳn hoi.
Người vác tay nải nghe đến đây thì trợn tròn hai mắt. Người chống gậy vẫn thủng thẳng kể tiếp, giọng chắc như đinh đóng cột.
Cái cây con ấy lớn lên, ra quả, quả lại rụng hạt, hạt lại nảy thành cây cháu. Cây cháu ra quả, hạt lại nảy thành cây chắt. Cứ như thế, hết đời cây này đến đời cây khác, đằng đẵng nối nhau qua bảy đời cây. Vậy mà cái hạt đầu tiên rơi từ trên ngọn kia, đến lúc ấy vẫn còn chưa chạm tới mặt đất, bác ạ.
Người vác tay nải nghe mà phục lăn, nhưng trong bụng vẫn còn tấm tức. Anh ta không cam lòng để bạn đường thắng mình dễ dàng như vậy, bèn vặn lại một câu, cốt để bắt bí cho bằng được.
Làm gì có cái cây nào cao đến mức vô lý như thế. Cây gì mà hạt rơi bảy đời còn chưa tới đất. Bác nói dóc thì cũng phải vừa vừa phải phải một chút chứ.
Người chống gậy đợi đúng câu ấy. Anh ta không vội đáp. Anh ta chỉ nhìn người bạn đường một lúc, để cho câu hỏi treo lửng lơ giữa trưa nắng, rồi mới tủm tỉm, chậm rãi hỏi ngược lại.
Bác thử nghĩ mà xem. Nếu như trên đời này không hề có cái cây nào cao đến thế.
Anh ta ngừng một nhịp, cố ý bỏ lửng nửa câu ngay ở đó. Rồi mới thong thả nói nốt.
Thì lấy đâu ra đủ gỗ, mà đóng nổi chiếc thuyền dài dằng dặc của bác được cơ chứ.
Người vác tay nải nghe câu ấy thì khựng lại một giây. Rồi mặt anh ta cứ từ từ giãn ra. Thì ra cái cây cao chọc mây kia, hóa ra lại vừa vặn là để lấy gỗ đóng nên chính chiếc thuyền dài của mình. Hai lời nói dóc, tưởng là của hai người xa lạ, vậy mà lại móc vào nhau khít khìn khịt, như thể đã hẹn nhau từ trước.
Đến nước này thì cả hai cùng vỡ lẽ. Người ngồi trước mặt mình đâu phải tay vừa. Mình vừa gặp đúng một người cùng một giuộc với mình, cũng mê kể chuyện to hơn sự thật y hệt như mình. Cả hai nhìn nhau, rồi không ai bảo ai, cùng phá lên cười.
Hai người cười ngặt nghẽo dưới gốc đa, cười đến chảy cả nước mắt, vỗ vai nhau đôm đốp. Người này khen chiếc thuyền của người kia dài thật khéo, người kia phục cái cây của người này cao thật tài. Chẳng ai chịu nhận mình thua, mà cũng chẳng ai nỡ bảo bạn thua. Bởi lẽ cả hai đều thầm hiểu, ở đời này, gặp được một người biết nói dóc hay ngang cơ mình như thế, đâu có phải chuyện dễ.
Nghỉ chân xong, hai người rủ nhau cùng đi tiếp. Họ thong dong ra chợ huyện, mà suốt dọc đường cứ thi nhau kể, hết chuyện chiếc thuyền lại sang chuyện cái cây, chuyện nào rồi cũng mỗi lúc một to thêm ra. Người trong chợ trông thấy hai người lạ vừa đi vừa cười nói rôm rả, cứ ngỡ là đôi bạn thân lâu năm nay mới gặp lại nhau.
Chuyện hai người nói dóc gặp nhau ấy, ông bà mình vẫn kể lại để mua vui đã bao đời. Lần nào nghe tới đoạn cái cây cao để lấy gỗ đóng thuyền, cả nhà cũng lại được một phen cười ngất.
Con đường ra chợ huyện vẫn dài hun hút như cũ. Chỉ có điều, từ trưa hôm ấy, trên con đường bụi vàng nắng, có thêm hai cái bóng đi liền nhau, thấp thoáng khuất dần sau rặng tre, tiếng cười theo gió bay xa mãi.