Ông Ó và bó dây khoai ngự
Giữa con đường bụi nắng từ Huế về phương Nam, một người đàn ông dừng trước cổng một ngôi nhà. Ông xin một gáo nước, nhưng không đưa lên uống. Ông nâng niu tưới từng giọt lên một bó dây khoai lang.
Chủ nhà đứng trong cổng nhìn mãi. Cớ sao người khách đường xa lại giữ bó dây ấy như báu vật?
Người khách ấy là Ông Ó. Đây là nhân vật trong giai thoại dân gian Nam Bộ, không phải lịch sử đã được xác minh. Lời kể xưa đặt ông ở xóm Dưa thuộc làng Phước Hội, vùng Bến Tre, thuở vua Minh Mạng. Nơi ấy vốn là rừng vông được người dân khai mở. Dưa, cải, bầu, bí và khổ qua dần xanh lên trên đất mới, rồi cái tên xóm Dưa cũng thành quen.
Ông Ó cũng là một người trồng rau bình dị. Ông từng mưu sinh bằng nghề bẫy chim, nên trẻ trong xóm gọi ông là Ông Ó. Nhưng thứ làm cái tên ấy đi xa không phải nghề cũ, mà là tài kể chuyện.
Trong lời kể của người xưa, Ông Ó vui tính và kể chuyện rất có duyên. Ông nói tỉnh bơ, chuyện càng lạ lại càng kể như thật. Người trong vùng biết tính ông nên gặp nhau vẫn nói chuyện vui vẻ, không ngại mích lòng. Câu nói của ông thường chỉ ngoặt một vòng là người nghe đã bật cười.
Một lần, một viên quan nghe danh Ông Ó, bèn cho gọi ông tới và bắt phải nói một chuyện láo. Ông Ó thưa rằng muốn nói cho hay thì phải có Sách. Tiếc là ông đã để Sách ở nhà, nên xin về lấy.
Viên quan đồng ý. Ông Ó ra về, rồi ở nhà khá lâu. Chờ mãi không thấy ông trở lại, viên quan lại cho người gọi đến.
“Cuốn Sách của ông đâu?”
Ông Ó điềm nhiên thưa:
“Bẩm, chuyện tôi có cuốn Sách để ở nhà chính là lời nói láo ngài đã đòi nghe.”
Tiếng đồn về Ông Ó theo những con đường đi xa khỏi xóm Dưa. Có lần ông được gọi ra tận Huế. Đông cung đang ngồi trên lưng voi, nghe danh ông liền muốn thử tài:
“Ông hãy nói láo để ta nghe.”
Ông Ó ngước nhìn rồi đáp:
“Ngài ở lưng chừng trời đất thế kia, tôi không thể nào nói láo được.”
Đông cung muốn nghe cho bằng được, bèn bước xuống khỏi lưng voi:
“Bây giờ ta đã đứng dưới đất. Ông nói đi.”
Ông Ó liền thưa:
“Tôi đã nói xong rồi. Tôi vừa làm cho ngài xuống voi đó thôi.”
Rời Huế, Ông Ó lên đường về Nam. Dọc đường, ông gặp một thứ khoai lang lạ và lấy một bó dây mang theo. Đường còn xa, ông bèn nghĩ cách kiếm thêm thức ăn cùng tiền đi đường từ chính bó dây ấy.
Đến một ngôi nhà ven đường, Ông Ó xin nước. Có nước rồi, ông không uống mà chậm rãi tưới lên bó dây. Chủ nhà thấy lạ, nhìn bó khoai một lúc rồi hỏi:
“Dây gì mà ông quý dữ vậy?”
Ông Ó nâng bó dây lên, kể rằng đây là giống khoai lấy từ vườn ngự uyển. Giống này không mọc bò lan dưới đất. Nó leo giàn như bầu bí, còn củ thì thòng xuống. Trồng được rồi thì quanh năm có khoai ăn.
Chủ nhà nghe đến vườn ngự uyển thì hỏi mua. Ông Ó bán cho người ấy một hoặc hai dây, nhận tiền rồi tiếp tục đi.
Qua một quãng đường khác, bó khoai đã ngắn đi một chút nhưng vẫn được giữ cẩn thận. Ông lại dừng trước một ngôi nhà và xin nước. Nước vừa mang ra, ông lại dành cho bó dây khoai. Người trong nhà cũng tò mò:
“Bó dây ấy có gì lạ?”
Câu chuyện vườn ngự uyển lại được kể. Vẫn là giống khoai leo giàn như bầu bí. Vẫn là những củ khoai thòng xuống, ăn quanh năm không hết. Người nghe nhìn mấy ngọn dây kỹ hơn, rồi xin mua một hoặc hai dây.
Đến chặng thứ ba, nhịp ấy lại lặp lại. Ông xin một gáo nước. Bó dây được tưới cẩn thận. Người trong nhà cất tiếng hỏi, rồi câu chuyện về vườn vua bắt đầu. Một dây được mua, rồi hai dây được mua.
Cứ thế, mỗi người chỉ lấy một ít. Bó dây khoai ngắn dần sau từng mái nhà, còn số tiền nhỏ trong tay Ông Ó góp dần thành tiền ăn đường. Ông có thể tiếp tục đi về phương Nam.
Dây khoai vẫn hoàn dây khoai. Những người mua đều tự hỏi, tự nghe chuyện rồi mới ngỏ ý. Tiếng cười nằm ở đôi tai người lớn vừa nghe mấy tiếng vườn ngự uyển đã vội tin, chứ không nằm ở cái mẹo đem đi dùng lại.
Đến khi bó dây đã vơi, Ông Ó có đủ tiền đi đường để trở về Bến Tre. Con đường bụi nắng dẫn ông về xóm Dưa, giữa những luống dưa, cải, bầu, bí và khổ qua. Cả nhà đã biết vì sao bó dây trên vai ông cứ ngắn dần sau mỗi cánh cổng.
Gió lướt qua hàng dừa. Bó dây đã vơi khẽ đung đưa theo bước Ông Ó trên con đường đất về xóm Dưa.