Phan Châu Trinh
Năm một nghìn chín trăm mười lăm, giữa lòng thành phố Paris, trong một căn phòng tù chật hẹp của nhà tù Santé, một người đàn ông Việt Nam ngồi viết thơ. Bên ngoài, chiến tranh đang xé toạc châu Âu. Bên trong, ông không ngừng tin rằng tri thức có thể thay đổi số phận của cả một dân tộc.
Người đàn ông ấy là Phan Châu Trinh.
Sinh ngày mồng chín tháng chín năm một nghìn tám trăm bảy mươi hai tại làng Tây Lộc, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, ông lớn lên trong một gia đình khó khăn sau khi cha mất sớm. Nhưng sự mất mát không dập tắt được khát vọng học hỏi. Cả nhà ạ, năm hai mươi bảy tuổi, ông mới bước vào trường tỉnh để học thi, cùng những người bạn đồng hành nổi tiếng là Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng. Đến năm một nghìn chín trăm, ông đỗ cử nhân. Một năm sau, đỗ phó bảng.
Tấm bằng ấy đủ để ông vào làm quan, sống an nhàn. Ông không chọn vậy.
Phan Châu Trinh nhìn thấy điều mà ông tin chắc: muốn dân tộc thoát khỏi ách áp bức, con đường không nằm ở súng đạn. Con đường đó đi qua những trang sách, những lớp học, những bài diễn thuyết. Ba chữ ông đặt ra làm kim chỉ nam cho cả cuộc đời: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Khai sáng dân trí trước. Chấn hưng khí phách dân tộc. Rồi mới cải thiện được đời sống. Ba chữ ngắn gọn, nhưng đủ sức định hình cả một thế hệ nhà yêu nước.
Năm một nghìn chín trăm lẻ sáu, ông viết thẳng một bức thư gửi Toàn quyền Đông Dương, thường được gọi là Đầu Pháp chính phủ thư. Không phải thư van xin. Không phải thư hòa giải. Đó là một bản kiến nghị đanh thép, đòi cải cách quyền dân chủ cho người Việt Nam, đòi mở trường học, đòi tự do ngôn luận. Một người Việt viết thẳng lên mặt thực dân điều họ không muốn đọc.
Năm sau, năm một nghìn chín trăm lẻ bảy, ông lên Hà Nội giảng dạy tại Đông Kinh Nghĩa Thục, ngôi trường cải cách nổi tiếng nhất đầu thế kỷ hai mươi. Ở đó, hàng trăm học trò lần đầu được đọc sách chữ Quốc ngữ, lần đầu được nghe nói về dân quyền, về tự do.
Nhưng con đường dũng cảm ấy không đi qua chỗ bằng phẳng. Năm một nghìn chín trăm lẻ tám, sau phong trào nông dân chống sưu thuế ở miền Trung, thực dân Pháp quy tội ông kích động bạo loạn và đày ông ra Côn Đảo. Hai năm trên hòn đảo biệt lập giữa biển Đông, bị giam cầm và lao động khổ sai. Hai năm mà ông chưa bao giờ bỏ cuộc về mặt tinh thần.
Năm một nghìn chín trăm mười, ông được trả tự do. Và rồi, thay vì lui về ẩn dật, ông đi thẳng đến Paris.
Hãy hình dung điều đó, cả nhà ơi. Một người vừa bước ra khỏi nhà tù thuộc địa, thay vì chạy trốn, lại đi thẳng đến thủ đô của đế quốc đang cai trị đất nước mình. Không phải để khuất phục. Mà để nói thẳng vào mặt quyền lực ấy: người Việt Nam xứng đáng được đối xử như những con người tự do.
Suốt mười bốn năm tại Paris, từ năm một nghìn chín trăm mười một đến năm một nghìn chín trăm hai mươi lăm, ông viết, diễn thuyết và vận động không ngừng. Năm một nghìn chín trăm mười bốn, ông lại bị bắt giam tại nhà tù Santé vì cáo buộc gián điệp. Trong những tháng tù đó, ông viết hơn hai trăm bài thơ. Bút không rời tay dù thân bị xiềng.
Năm một nghìn chín trăm hai mươi hai, ông viết Thư Thất Điều, bản truy hặc bảy tội gửi thẳng đến vua Khải Định, người ông cho là đang bán rẻ phẩm giá dân tộc trước thực dân. Đây không phải thư của kẻ sợ hãi. Đây là tiếng nói của người tin chắc vào quyền lợi của nhân dân.
Tháng sáu năm một nghìn chín trăm hai mươi lăm, ông trở về Sài Gòn sau mười bốn năm xa quê. Người đón ông là hàng nghìn học trò và đồng bào đã nghe tên ông qua những trang báo, những bài giảng lưu truyền lại. Ông còn kịp đứng trên bục giảng lần cuối, đọc bài giảng Đạo đức và luân lý Đông Tây, tổng kết cả một đời suy nghĩ về con đường giải phóng bằng văn hóa và giáo dục.
Ngày hai mươi bốn tháng ba năm một nghìn chín trăm hai mươi sáu, Phan Châu Trinh mất tại Sài Gòn. Ông hưởng thọ năm mươi ba tuổi.
Ngày mồng tư tháng tư năm ấy, đám tang của ông biến thành một cuộc biểu dương lực lượng chưa từng có. Hơn sáu mươi nghìn người xuống đường tiễn đưa ông, từ Sài Gòn ra tới Hà Nội, nhân dân biểu tình tưởng niệm. Người ta không khóc một quan lại hay một võ tướng. Người ta khóc một người thầy, một người cầm bút đòi quyền con người bằng chính lý lẽ của văn minh.
Tại Tam Kỳ, quê hương ông, đền thờ Phan Châu Trinh đứng đó nhắc nhở con cháu Quảng Nam về người con của đất này. Nhắc về ba chữ ông để lại, ba chữ mà cả nhà chúng ta hôm nay vẫn đang thực hiện mỗi khi cắp sách đến trường, mỗi khi mở một trang sách, mỗi khi dùng tri thức để thay đổi cuộc sống của mình.
Khai dân trí. Chấn dân khí. Hậu dân sinh.
Hơn một trăm năm trôi qua, ba chữ ấy vẫn còn nguyên sức nặng.