Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Phan Văn Lân

0:000:00

Trời chưa sáng. Không khí đêm mùng bốn rạng mùng năm tháng Giêng lạnh như cắt da, sương mù phủ trắng những con đường dẫn về Thăng Long.

Trong đoàn quân Tây Sơn đang tập kết phía nam kinh thành, có một người không ngồi chờ. Phan Văn Lân, tướng tiên phong của Đạo Trung quân, bước đi giữa hàng quân trong bóng tối, mũ giáp đẫm hơi sương. Các binh sĩ dưới quyền ông cũng không ngủ. Họ biết, trận đánh lớn nhất đời mình sắp bắt đầu.

Cả nhà có thể hỏi: một người sinh năm một nghìn bảy trăm ba mươi, từng giữ chức Hầu trong triều Tây Sơn, vì sao lại có mặt ở đây, trong đêm tối giữa mùa Tết?

Câu trả lời bắt đầu từ nhiều năm trước đó, trong một lớp học ở vùng Tây Sơn. Cậu học trò Phan Văn Lân ngồi cùng chiếu với ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ dưới mái nhà thầy Trương Văn Hiến. Từ lớp học ấy, bốn người đi theo bốn con đường khác nhau, rồi hội tụ về một dải đất chung. Khi phong trào Tây Sơn khởi nghĩa năm một nghìn bảy trăm bảy mươi mốt, Phan Văn Lân là một trong những người đầu tiên theo. Hoàng đế Quang Trung gọi ông là nanh vuốt. Đó là người mà bạo phong thì xông ra trước, gian khó thì đứng ở đầu.

Cuối năm một nghìn bảy trăm tám mươi tám, đại quân nhà Thanh từ phương bắc tràn xuống, chiếm Thăng Long với danh nghĩa phù Lê. Quang Trung dẫn đại quân tiến ra bắc trong mùa đông rét cắt. Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân được giao làm hai tướng tiên phong của Đạo Trung quân do chính nhà vua chỉ huy.

Trong những tuần trước trận quyết định, Phan Văn Lân không ngồi chờ lệnh. Ông dẫn quân vượt sông Nguyệt Đức để thăm dò và cầm chân quân Thanh ở phía trước. Khi thế trận đòi hỏi, ông rút về Thị Cầu, cắt cầu, cho quân bắn pháo từ triền cao xuống lòng sông, giữ phòng tuyến trong ba ngày dài để đại quân Tây Sơn có thêm thời gian tiến đến. Ba ngày ấy, quân Thanh không qua được Thị Cầu.

Và rồi ông cùng Ngô Văn Sở nghĩ ra một điều thật đặc biệt. Quân Thanh dày đặc súng và nỏ. Quân xông vào trực diện sẽ ngã rất nhiều. Hai ông cho làm những tấm mộc mạn bằng gỗ, bọc ngoài bằng rơm dày tẩm bùn. Rơm ướt và bùn hút lực súng, hút đầu tên. Những chiếc khiên kỳ lạ ấy giúp quân tinh nhuệ tiến gần hơn, nhanh hơn, mà ít ngã hơn.

Dũng cảm thôi chưa đủ. Người lính giỏi là người từng đứng trước mũi tên nên hiểu mũi tên bay như thế nào.

Đêm mùng tư rạng mùng năm, mọi thứ lặng im lạ thường. Phía tây nam Thăng Long, cánh quân của Đô đốc Long đột ngột tấn công đồn Khương Thượng. Trong đêm tối, tiếng trống và tiếng voi xung trận vang lên từ hướng không ai ngờ tới. Tướng Sầm Nghi Đống không kịp ứng phó. Đồn Khương Thượng vỡ trận.

Và khi bầu trời vừa hé sáng, Đạo Trung quân ào vào Ngọc Hồi. Phan Văn Lân đứng ở hàng đầu, nơi không phải người ta chọn để an toàn, mà là nơi người ta chọn để hàng quân sau có thể tiến lên.

Mùng năm Tết Kỷ Dậu, năm một nghìn bảy trăm tám mươi chín, Thăng Long được giải phóng. Không phải bảy ngày như Quang Trung hứa với ba quân. Sớm hơn hai ngày.

Người ta hay nhớ Quang Trung vào Thăng Long với áo bào còn ám khói thuốc súng. Ít người nhắc đến người đã mở đường cho ông đi. Phan Văn Lân là một trong những người đó.

Sau chiến thắng, ông tiếp tục phụng sự Tây Sơn dưới triều Cảnh Thịnh. Khi nội bộ Tây Sơn rối ren sau năm một nghìn bảy trăm chín mươi hai và Quang Trung qua đời, ông rút lui. Khi triều Tây Sơn sụp đổ năm một nghìn tám trăm linh hai, ông trốn về vùng biển Đan Hải, Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, sống những năm cuối đời trong im lặng giữa những ngư dân. Ông mất khi đã ngoài bảy mươi tuổi.

Hằng năm, vào mùng năm Tết Nguyên Đán, hàng chục nghìn người Hà Nội kéo về Gò Đống Đa để thắp hương và tưởng nhớ chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa. Trong lễ hội ấy, người ta nhớ Quang Trung. Người ta nhớ trận đánh. Và đâu đó trong làn khói nhang buổi sáng mùng năm, có cả bóng hình của những người đi trước, những người tiên phong chưa một lần cần ai hỏi tên.

Cả nhà ạ, lịch sử thường nhớ những người đứng cao nhất. Nhưng chính những người đứng ở hàng đầu, không phải để nổi tiếng mà để mở lối cho người đi sau, mới là những người mà chiến thắng ấy thực sự thuộc về.

Mùng năm Tết năm ấy, Phan Văn Lân và những chiến sĩ của ông không có bàn tiệc Tết, không có tiếng pháo vui, không có bánh chưng ấm tay. Nhưng chính vì họ không có Tết đêm ấy, mà cả dân tộc mới có mùa xuân năm đó, và nhiều mùa xuân về sau.

Câu chuyện gần đây