Phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng
Gió gào bên tai to đến mức cô gái không còn nghe rõ tiếng của chính mình nữa. Cô ghì chặt lấy tấm lưng rộng đang gồng lên bên dưới mình, mắt nhắm nghiền, hai bàn tay tê cứng vì lạnh. Phía dưới xa tít, biển cả đen thẫm cuộn sóng dữ dội, thỉnh thoảng một ngọn sóng cao vọt lên táp ướt cả gót chân cô. Cô đang bay giữa trời cao. Không phải trên cánh chim, mà trên lưng của chính cơn gió.
Để hiểu vì sao một cô gái lại đang bay giữa không trung lạnh buốt như thế, câu chuyện phải kể lại từ những ngày rất xa, từ căn nhà nghèo nơi cô sinh ra. Người Na Uy xưa kể chuyện này qua bao đời, cả nhà ạ, bên bếp lửa trong những đêm mùa đông dài nhất, và cứ thế truyền lại mãi cho đến hôm nay.
Thuở ấy, có một gia đình nghèo đông con, sống trong một túp lều nhỏ ở vùng đất phương bắc quanh năm gió lạnh. Cô con gái út là người xinh đẹp nhất nhà, mà nhà thì đông miệng ăn, quanh năm chẳng mấy khi đủ no.
Một tối mùa đông có bão lớn, cả nhà đang quây quần bên bếp lửa thì nghe tiếng gõ cửa. Mở cửa ra, ai nấy sững sờ khi thấy một con gấu trắng khổng lồ đứng sừng sững ngoài trời tuyết. Gấu trắng cất giọng nói được như người, bảo rằng nếu gả cô con gái út cho nó, nó sẽ biến cả nhà từ nghèo khó thành giàu có. Cha mẹ mừng rỡ, nhưng cô gái từ chối ngay. Gấu trắng không giận, chỉ hẹn tuần sau sẽ quay lại nghe câu trả lời. Suốt tuần ấy, nhìn cảnh nhà nghèo túng, cả nhà thiếu ăn, cô gái nghĩ đi nghĩ lại. Đến khi gấu trắng quay lại, chính cô tự mình quyết định gật đầu, ưng thuận theo gấu trắng.
Cô leo lên lưng gấu trắng, hai tay ôm chặt bộ lông dày, và họ băng qua bao núi non trập trùng cho đến một tòa lâu đài lấp lánh bạc vàng nằm sâu trong lòng núi. Trong lâu đài có một chiếc chuông bạc nhỏ, hễ cô rung chuông ước điều gì, thứ ấy tự nhiên hiện ra ngay trước mắt. Ban ngày, gấu trắng đi đâu không ai rõ. Nhưng cứ đến đêm, khi cô vừa tắt đèn, lại có một người nằm xuống bên cạnh cô trong bóng tối, rồi biến mất trước khi trời sáng. Cô chưa từng nhìn rõ mặt người ấy lấy một lần.
Sống một mình giữa cảnh giàu sang, cô ngày một buồn bã, nhớ nhà đến phát khóc. Gấu trắng thương tình, cho cô về thăm cha mẹ ít hôm, chỉ dặn đúng một điều, tuyệt đối đừng ở lại nói chuyện riêng với mẹ, kẻo mang tai họa đến cho cả hai người. Nhưng gặp lại con, người mẹ nào kìm được lòng mình. Bà kéo cô gái ra một góc, thì thầm hỏi han, rồi đoán rằng người nằm bên cô mỗi đêm rất có thể là một con quỷ núi đội lốt người. Bà dúi vào tay cô một mẩu nến, dặn đợi người ấy ngủ say hãy thắp lên nhìn cho rõ mặt, chỉ cẩn thận đừng để giọt sáp nào rơi xuống người ấy.
Trở lại lâu đài, đêm đến, cô nằm đợi cho tới khi nghe hơi thở đều đều vang lên bên cạnh. Cô khẽ thắp mẩu nến lên. Ánh sáng rọi vào một gương mặt đẹp đến mức cô phải nín thở, đó là một chàng hoàng tử tuấn tú nhất mà cô từng thấy trong đời. Cô mải mê ngắm nhìn, tay cầm cây nến run run nghiêng dần, nghiêng dần, cho đến khi ba giọt sáp nóng rớt ngay xuống chiếc áo chàng đang mặc. Chàng giật mình bừng tỉnh.
Chàng hoàng tử nhìn cô, giọng đầy tiếc nuối. Chàng kể rằng chính mụ quỷ dì ghẻ của chàng đã phù phép, bắt chàng mang lốt gấu trắng suốt ban ngày, chỉ được trở lại hình người vào ban đêm. Giá như cô chịu đợi thêm đúng một năm nữa mà không tò mò, lời nguyền đã tự nó tan biến, chàng được làm người mãi mãi. Nhưng giờ đây, vì ba giọt sáp ấy, chàng buộc phải quay về lâu đài của mụ dì ghẻ, ở một nơi người ta gọi là phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng, chẳng ai biết đường đến đó. Nơi ấy, mụ đang chờ sẵn để bắt chàng cưới con gái mụ, một nàng công chúa quỷ núi với chiếc mũi dài đến mức không ai đo nổi.
Nói xong, cả tòa lâu đài tan biến trong chớp mắt. Cô gái chỉ còn thấy mình đứng một mình giữa cánh rừng hoang vắng, không nhà cửa, không người thân bên cạnh. Cô khóc một hồi lâu. Rồi cô lau nước mắt bằng cả hai bàn tay, hít một hơi thật sâu cái lạnh của rừng, và cất bước chân đầu tiên. Lỗi là do chính tay cô gây ra, thì chính đôi chân cô phải đi mà sửa lại, dù chẳng ai trên đời biết phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng nằm ở phương nào.
Cô đi mãi, đi mãi, đôi chân đau rát, qua bao cánh rừng không tên. Một hôm, cô thấy dưới chân vách núi có một bà lão tóc bạc ngồi tung hứng một quả táo vàng óng trong tay, ánh vàng lấp lánh cả một góc rừng. Nghe cô hỏi đường đến phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng, bà lão chậm rãi lắc đầu. Bà chỉ biết một điều thôi, rằng đi tiếp về phía trước còn có một bà lão nữa ở gần đấy, may ra bà ấy rõ hơn. Bà cho cô mượn con ngựa của mình để đi tiếp, dặn khi đến nơi chỉ cần vỗ nhẹ dưới tai trái, ngựa sẽ tự tìm đường quay về. Trước lúc chia tay, bà đặt luôn quả táo vàng vào tay cô, biết đâu rồi sẽ có lúc cần đến.
Bà lão thứ hai ngồi bên khung cửa, tay cầm một chiếc lược chải len bằng vàng sáng rực. Bà nheo mắt nghe cô kể, rồi thở dài, nơi ấy xa hơn tất cả những nơi bà từng nghe nói tới. Nhưng bà cũng cho mượn ngựa, cũng chỉ đường đến một bà lão nữa ở xa hơn, và cũng dúi vào tay cô chiếc lược vàng của mình. Còn bà lão thứ ba, già nhất trong ba bà, đang ngồi quay một chiếc xa kéo sợi bằng vàng kêu vo vo đều đều. Nghe xong câu hỏi, bà ngừng tay, im lặng hồi lâu. Cả đời bà chưa từng gặp ai biết đường đến đó. Nhưng trên trời cao còn có bốn anh em nhà gió, quanh năm bay khắp mặt đất, nếu bốn anh em ấy cũng chịu thì coi như khắp thế gian không ai biết nữa. Bà trao nốt chiếc xa kéo sợi vàng cho cô gái, cho cô mượn cả con ngựa nhà mình, rồi chỉ tay về hướng nhà gió đông.
Gió đông nhẹ nhất nhà, nghe cô hỏi thì chỉ biết cười ngượng nghịu. Cả đời gió đông chưa từng bay được xa đến vậy. Nhưng gió đông vui vẻ cõng cô sang nhà người anh là gió tây, cơn gió từng thổi qua bao vùng biển rộng. Gió tây nghe xong cũng đành chịu thua, nơi ấy còn xa hơn cả những nơi xa nhất mình từng tới, thôi thì để anh gió nam thử xem. Gió nam nóng và mạnh hơn hẳn hai em, quanh năm rong ruổi khắp bốn phương trời, vậy mà nghe đến cái tên phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng cũng phải lặng đi. Chỉ còn đúng một người có thể biết. Người anh cả, già nhất và mạnh nhất trong bốn anh em, chính là gió bắc.
Nhà gió bắc lạnh buốt, và tiếng nói của ông ầm ầm như đá lăn. Gió bắc lắng nghe xong, gật đầu chậm rãi. Ông từng bay đến tận nơi ấy đúng một lần, từ rất lâu về trước, và chuyến ấy làm ông mệt lả suốt nhiều ngày liền sau đó. Nhưng nhìn cô gái nhỏ đã đi xuyên gần hết thế gian để đứng được trước mặt mình, ông quyết định cõng cô trên lưng, gắng sức bay một chuyến nữa. Ông gào thét lao qua bầu trời, vượt núi non, băng qua biển cả tối đen, cây cối dưới mặt đất rạp cả xuống, tàu thuyền ngoài khơi chao đảo. Đó chính là chuyến bay cả nhà đã nghe ngay từ đầu câu chuyện. Nhưng càng bay, gió bắc càng đuối sức. Ông sà thấp dần, thấp dần, thấp đến mức những ngọn sóng chồm lên táp qua cả gót chân cô gái, tưởng chừng cả hai sắp chìm xuống biển sâu. May sao, đúng lúc hơi thở cuối cùng sắp cạn, ông kịp đặt cô lên bờ đá trước cổng một tòa lâu đài xa lạ, rồi mới dám nằm vật ra nghỉ.
Trước cổng lâu đài, cô gặp đúng nàng công chúa quỷ núi mũi dài, người đang chờ làm vợ hoàng tử. Cô lấy quả táo vàng ra ngồi chơi trước cổng. Thấy vật lạ đẹp mắt, nàng công chúa quỷ núi liền đòi đổi. Cô gái ra điều kiện, đổi táo vàng lấy một đêm được vào ngồi cạnh vị hoàng tử đang ngủ. Nàng công chúa quỷ núi ưng thuận ngay, nhưng đêm ấy lại lén cho hoàng tử uống một thứ nước khiến chàng ngủ say như chết. Suốt đêm, cô gái gọi mãi, lay mãi, hoàng tử vẫn không hề tỉnh giấc. Đêm hôm sau, cô lại đổi chiếc lược vàng lấy một đêm nữa, nhưng kết quả vẫn y hệt, hoàng tử ngủ say chẳng hay biết gì. Hai đêm liền như thế, cả nhà ạ. Đi gần hết thế gian mới đến được nơi này, vậy mà cô chỉ biết ngồi khóc bên người đang ngủ say.
Nhưng trong lâu đài, có những người từng bị giam giữ đã nghe thấy tiếng cô gái khóc gọi suốt hai đêm liền, và họ kể lại cho hoàng tử nghe. Đêm thứ ba, khi nàng công chúa quỷ núi mang nước đến, hoàng tử giả vờ uống rồi lén đổ đi. Vừa đổi được chiếc xa kéo sợi vàng để vào phòng, cô gái mừng rỡ thấy hoàng tử đã tỉnh táo, đang chờ mình. Hai người ôm nhau mừng mừng tủi tủi, kể hết đầu đuôi câu chuyện, rồi cùng nhau bàn cách thoát khỏi lũ quỷ núi.
Hoàng tử tuyên bố trước cả lâu đài quỷ núi rằng chàng chỉ cưới người con gái nào giặt sạch được ba vết sáp nến dính trên chiếc áo cũ của chàng. Đó chính là chiếc áo từng dính ba giọt sáp đêm nào ở lâu đài trong núi. Nàng công chúa quỷ núi hăm hở giặt trước, nhưng vết sáp chẳng những không sạch mà còn loang to hơn, đen sẫm hơn. Mụ quỷ dì ghẻ giành lấy giặt thử, kết quả cũng chẳng khá hơn chút nào. Đến lượt cô gái, cô vừa nhúng chiếc áo xuống nước, vết sáp đã tan biến ngay tức khắc, áo trắng tinh như tuyết mới rơi.
Mụ quỷ dì ghẻ tức đến mức nổ bùng lên một tiếng, biến mất ngay tại chỗ. Nàng công chúa quỷ núi mũi dài cũng chung số phận ngay sau đó. Từ hôm ấy, chẳng ai còn nhìn thấy bóng dáng một con quỷ núi nào quanh tòa lâu đài ấy nữa.
Hoàng tử nắm tay cô gái, cùng nhau mở hết các cửa ngục tối trong lâu đài, thả tự do cho bao nhiêu người từng bị lũ quỷ núi bắt giữ giam cầm từ lâu. Hai người thu dọn vàng bạc châu báu, rời khỏi tòa lâu đài quỷ núi mãi mãi, không một lần ngoái đầu nhìn lại.
Trên đường về, thỉnh thoảng có một cơn gió lớn thổi ngang qua, mát lành và êm ả, chẳng còn gào thét dữ dội như đêm nào nữa. Cô gái ngước nhìn lên trời, khẽ mỉm cười. Cô biết, đâu đó trong làn gió hiền hòa ấy, vẫn còn người bạn già đã từng gắng hết sức mình, cõng cô bay qua cả một vùng biển tối, để đưa cô đến đúng nơi mình cần đến.