Quế Trà My: mảnh vỏ cây mang tên ngọc
Người xưa khắc chữ Quế làm tên cho một hình cây trên chiếc đỉnh đồng ở Huế, mà không ghi thêm tên cánh rừng nào. Cùng một hàng với hình cây ấy có một bông hoa mai và một cây hoàng đàn. Có cả một cây đậu ván, một bông hải đường và một con đuông dừa.
Chiếc đỉnh ấy tên là Nghị Đỉnh. Nó đứng cùng tám chiếc đỉnh đồng khác trước Thế Tổ Miếu, trong Kinh thành Huế. Cả chín chiếc gọi chung là Cửu Đỉnh, do vua Minh Mạng cho đúc. Lệnh đúc ban ra vào năm một nghìn tám trăm ba mươi lăm. Đến năm một nghìn tám trăm ba mươi bảy, chín chiếc đỉnh đã đúc xong.
Khắp chín chiếc đỉnh có một trăm sáu mươi hai bức chạm. Hình cây nào, hình con vật nào cũng được khắc rõ tên, bằng chữ Hán. Người xứ Quảng thì vẫn tự hào kể rằng cây quế trên đỉnh đồng là quế của họ, quế của núi rừng Trà My.
Cái tên khắc trên đỉnh đồng chỉ có một chữ. Ở xứ Quảng, quế Trà My còn có một cái tên dài hơn nhiều, nói về núi cao và về ngọc: cao sơn ngọc quế. Phần núi cao thì đúng, quế ấy mọc trên núi thật. Chỉ có chữ ngọc ở giữa là nghe chẳng khớp chút nào.
Viên ngọc mà cả nhà từng thấy thì nhẵn nhụi, sáng trong. Cây quế Trà My thì khác hẳn. Thân nó không mọc thẳng. Dọc thân lồi lên những mắt gỗ. Lớp vỏ bên ngoài xù xì, thô ráp. Một cái cây khúc khuỷu như thế, sao lại được gọi là ngọc?
Những cây quế khúc khuỷu ấy mọc ở Trà My, vùng núi phía tây của đất Quảng Nam cũ, nay thuộc thành phố Đà Nẵng. Trà Vân, Trà Don, Trà Leng là mấy nơi trồng quế có tiếng ở đó. Quế mọc trên những sườn núi cao chừng từ ba trăm mét đến tám trăm mét, có nơi còn lên tới những vùng núi cao hơn thế rất nhiều. Từ năm hai nghìn không trăm mười một, cái tên Trà My đã được ghi vào giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý, dành riêng cho thứ quế của vùng núi này.
Thuở trước, quế Trà My là cây mọc hoang trong rừng. Người Ca Dong, một nhóm của người Xơ Đăng, cùng người Mơ Nông mang cây quế rừng về trồng trong vườn nhà. Từ những mảnh vườn ấy, quế lan dần ra đồi, ra rừng. Ở Bắc Trà My, người Xơ Đăng và người Co, còn gọi là người Kor, cũng mang cây quế rừng về trồng. Họ trồng quế để nhà mình dùng, để trao đổi và buôn bán.
Ở Trà My, người Xơ Đăng, trong đó có người Ca Dong, cùng người Mơ Nông coi cây quế như bạc, như vàng. Vườn quế là của để dành cho cả một gia đình.
Ngày cưới của con, nhiều nhà người Kinh cho con vàng bạc. Nhiều nhà người Xơ Đăng ở Nam Trà My thì cho con cả một vườn quế. Những nhà ấy trồng vườn quế cho con từ khi con còn nhỏ. Ở vùng quế Trà My, cũng có những nhà trồng thêm một vườn quế khi đứa con vừa chào đời, để dành cho con sau này.
Chờ một vườn quế tới ngày thu hoạch thì lâu lắm. Ở Bắc Trà My, cây quế thấp, lại lớn chậm, vườn phải đợi hơn hai mươi năm. Ở Nam Trà My, vườn nhanh nhất cũng mất mười lăm năm. Mười lăm năm, lâu hơn cả tuổi của các bạn nhỏ đang nghe chuyện này.
Con lớn lên từng mùa, và vườn quế của con chậm rãi lớn theo. Đến khi con khôn lớn, vườn quế cũng vừa tới tuổi thu hoạch.
Trong khi vườn của con còn non, trên núi đã có những vườn quế đủ tuổi. Từ tháng mười hai, người trồng quế đi vào những vườn ấy, tìm những cây sắp tới lúc lấy vỏ. Ở chân mỗi cây ấy, họ khoanh một vòng quanh lớp vỏ. Vòng khoanh khiến nước từ rễ lên thân ít đi, nhờ thế lớp vỏ giữ lại được nhiều tinh dầu hơn.
Mỗi năm có hai mùa bóc vỏ, một vào mùa xuân, một vào lúc cuối hè sang thu. Để tách lớp vỏ khỏi thân, người lớn cần một thứ đồ nghề cứng và sắc, nhưng không được bén quá. Một người trồng quế lâu năm ở Trà Don có hẳn một bộ dụng cụ tách vỏ làm bằng sừng trâu.
Bóc xong, người trồng quế đem vỏ ra phơi. Họ úp những tấm vỏ xuống mặt đất, để che bớt nắng gắt và giữ lấy tinh dầu bên trong. Phơi khô rồi, vỏ quế để được nhiều năm mà không mốc.
Đứa con đứng nhìn những tấm vỏ úp sấp dưới nắng. Vườn quế của con thì vẫn còn non. Một người lớn lật một tấm vỏ đã khô lên cho con xem. Mặt ngoài xù xì, nhưng tấm vỏ thì dày và sẫm màu, lại chứa nhiều tinh dầu.
Xù xì ở ngoài, quý ở bên trong.
Còn cái tên đẹp ấy có từ đâu, đến nay chưa ai nói chắc được. Chỉ còn lại những lời kể xưa.
Người ta kể rằng nàng Huyền Trân, công chúa nhà Trần, khi đã về làm hoàng hậu của vua Chế Mân nước Chăm Pa, hay bị chứng phong thấp. Thương nàng, vua Chế Mân sai các quan lên rừng núi Quảng Nam tìm gỗ quế, đóng cho nàng đôi guốc. Từ đó, bệnh của nàng nhẹ dần.
Tương truyền, vào khoảng giữa thế kỷ mười bảy, một vị vua nước Nam đem tặng vua nước Xiêm một thứ quế. Vua Xiêm ưng lắm, gọi thứ quế ấy là cao sơn ngọc quế.
Theo đường bộ, theo dòng sông Thu Bồn, sông Vu Gia, hàng hóa của rừng núi xuôi dần về phố cảng Hội An. Từ thế kỷ mười bảy, việc buôn bán ở Đàng Trong mỗi lúc một nhộn nhịp. Giữa bao thứ của rừng núi xuôi về đó, quế Trà My thuộc hàng quý nhất. Ở bến, những con thuyền đi biển chở quế đi tiếp, cùng với cau, chè và đường.
Chuyện cũ còn kể, dưới triều Nguyễn, năm nào quế Trà My cũng được dâng về tận kinh đô Huế làm sản vật tiến vua.
Vỏ quế Trà My có vị cay, nồng và đượm. Ngày nay, người nấu vẫn dùng quế để tẩm ướp, làm thơm món ăn, làm thơm cả kem và bánh.
Ở Trà Leng, trong mỗi vườn quế, người ta để lại vài cây già lấy hạt giống, giữ lấy nguồn giống quý. Ở Nóc Ông Ní, xã Trà Vân, có một cây quế khổng lồ. Cây đã hơn một trăm năm mươi tuổi, cao chừng ba mươi mét. Vỏ của cây, không ai bóc đem bán. Người ta chỉ lấy hạt của cây để ươm cây con.
Năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, cây nhận thêm một danh hiệu là Cây di sản Việt Nam. Người Trà Vân thì vẫn gọi cây bằng một tiếng thân hơn, như khi gọi cụ ông, cụ bà trong nhà: cụ quế.