Jikji, cuốn sách in chữ rời kim loại xưa nhất còn lại
Trong một căn phòng lưu trữ ở Paris, có người vừa với tay lên giá cao và hạ một chiếc hộp xuống mặt bàn.
Phòng im tới mức nghe rõ tiếng bìa hộp cọ vào nhau. Nắp mở ra. Bên trong là giấy, thứ giấy mỏng đã ngả sang màu nước chè, xếp thành một tập sách khâu chỉ dọc theo gáy. Người phụ nữ đứng bên bàn lật rất chậm, từng tờ một, cho tới trang cuối cùng.
Rồi bà dừng lại.
Người làm sách ngày xưa có thói quen ghi ở trang cuối vài dòng nhỏ cho biết cuốn sách này được làm tại đâu, vào năm nào, và làm bằng cách gì. Bà đọc mấy dòng ấy. Bà đọc lại một lần nữa. Và bà hiểu ra rằng thứ đang nằm dưới mười đầu ngón tay mình không phải một cuốn sách cũ bình thường.
Năm ấy là một nghìn chín trăm bảy mươi hai.
Người phụ nữ ấy tên là Park Byeong-seon. Bà sinh năm một nghìn chín trăm hai mươi ba, rời quê hương sang Pháp học, rồi từ năm một nghìn chín trăm sáu mươi bảy bà vào làm ở Thư viện Quốc gia Pháp. Việc của bà là ngồi giữa những khối tài liệu liên quan tới đất nước mình, phần lớn đã nằm yên ở đó hàng chục năm, và xem lại từng thứ một.
Cuốn sách trong hộp mang một cái tên rất dài, nên người ta quen gọi tắt là Jikji. Nó chép lại phần cốt lõi trong lời dạy của Thiền tông, do một vị sư hiệu Baegun soạn vào cuối thời Goryeo. Còn mấy dòng ở trang cuối thì nói rất rõ: sách được in vào tháng bảy năm một nghìn ba trăm bảy mươi bảy, tại chùa Heungdeoksa ở thành phố Cheongju, bằng những con chữ kim loại rời.
Chỗ đặc biệt nằm đúng ở mấy chữ cuối cùng ấy, nên phải nói cho thật rõ ràng.
In sách thì vùng Đông Á đã biết làm từ rất lâu trước đó. Cách quen thuộc nhất là khắc mộc bản. Người thợ lấy một tấm gỗ, khắc ngược nguyên cả một trang chữ lên mặt gỗ, rồi phết mực và in ra giấy. Cách ấy đẹp và bền. Nhưng khắc xong một trang thì tấm gỗ đó mãi mãi chỉ in được đúng trang đó thôi. Muốn in cuốn khác, phải khắc lại từ đầu. Chính văn bản Jikji này, một năm sau, cũng được khắc thành mộc bản, và bản mộc bản đầy đủ ấy tới nay vẫn còn ở Hàn Quốc.
Chữ rời kim loại thì khác hẳn. Người ta đúc riêng từng con chữ một, mỗi con chữ là một khối kim loại nhỏ, cả nhà cầm lên sẽ thấy nó chỉ nhỉnh hơn đầu ngón tay. Xếp những con chữ ấy lại thành một trang, in xong thì dỡ ra, lau sạch, cất về rổ. Hôm sau, cũng chính những con chữ ấy được xếp thành một trang hoàn toàn khác. Một rổ chữ in được cuốn kinh tháng này và cuốn sách thuốc tháng sau.
Còn một điều nữa cũng phải nói cho ngay ngắn. Sách vở Triều Tiên xưa có nhắc tới những lần in bằng chữ kim loại còn sớm hơn nữa. Chỉ có điều không bản in nào của những lần ấy còn giữ được tới hôm nay. Cho nên câu chắc chắn và đúng đắn nhất về Jikji là thế này: trong tất cả những cuốn sách in bằng chữ rời kim loại mà loài người còn giữ được, đây là cuốn xưa nhất. Nó ra đời trước cuốn Kinh Thánh do Gutenberg in bên châu Âu bảy mươi tám năm.
Vậy từ một ngôi chùa ở Cheongju, nó đi đường nào tới cái bàn gỗ trong phòng lưu trữ ấy?
Sách vốn in thành hai tập. Tập một thất lạc từ lâu, tới giờ không ai biết nó ở đâu. Chỉ tập hai đi hết chặng đường dài. Một nhà ngoại giao người Pháp tên là Victor Collin de Plancy sang làm việc ở Triều Tiên, và cuốn sách vào tay ông tại đó. Nó là của riêng ông cho tới năm một nghìn chín trăm mười một, khi được đem bán cho một nhà sưu tầm tên là Henri Vever. Ông Vever giữ nó tới cuối đời rồi để lại cho Thư viện Quốc gia Pháp vào năm một nghìn chín trăm năm mươi. Tới năm một nghìn chín trăm năm mươi hai, cuốn sách chính thức vào kho thư viện.
Rồi nó nằm im.
Một cuốn sách vào kho thì được ghi sổ, dán số, xếp lên giá, và ở yên trên giá ấy. Suốt hai mươi năm, ngày nào cũng có người đi ngang qua nó mà không ai biết mình vừa đi ngang qua cái gì. Cho tới buổi chiếc hộp được hạ xuống mặt bàn.
Ngay trong năm đó, cuốn sách được đem ra trưng bày ở một triển lãm sách lớn tại Paris, đúng dịp thế giới lấy làm Năm Sách Quốc tế. Người nghiên cứu từ nhiều nước xúm quanh tủ kính. Và phương Tây công nhận đúng cái điều mà mấy dòng chữ nhỏ ở trang cuối đã ghi sẵn từ mấy trăm năm trước.
Bà Park không dừng lại ở đó. Ba năm sau, cũng trong chính thư viện ấy, bà lần ra một gian kho khác và tìm thấy một khối sách nghi lễ của hoàng gia Triều Tiên, bị xếp nhầm vào chỗ sách Trung Quốc và nằm phủ bụi ở đó. Bà theo đuổi câu chuyện của những cuốn sách ấy gần như suốt phần đời còn lại của mình. Năm hai nghìn mười một, chúng được đưa về lại Hàn Quốc. Bà mất cũng trong năm ấy.
Trong lúc đó, ở Hàn Quốc lại có một chuyện khác đang chờ dưới lòng đất.
Cái tên Heungdeoksa thì nằm sẵn trong sách, nhưng ngôi chùa ấy đã biến mất từ rất lâu, và không ai chỉ được nó từng đứng ở chỗ nào. Năm một nghìn chín trăm tám mươi lăm, tại Cheongju người ta khởi công san một khu đất. Máy vừa xúc xuống thì hiện vật lộ ra, công trường phải dừng, và một đoàn khảo cổ vào cuộc. Trong đống đồ đồng đào lên có một chiếc khánh đã vỡ. Trên mặt khánh có khắc tên ngôi chùa Heungdeoksa.
Thế là chỗ đứng của ngôi chùa được xác định, ngay tại nơi cuốn sách từng ra đời. Một mảnh đồng vỡ dưới đất trả lời cho mấy dòng chữ trên trang giấy cách đó nửa vòng trái đất.
Năm hai nghìn lẻ một, Jikji được ghi vào Danh mục Ký ức Thế giới của UNESCO.
Câu chuyện này có một chỗ hơi lạ, và cứ để nó lạ như vậy. Cuốn sách in chữ rời kim loại xưa nhất mà loài người còn giữ được thì đang ở Paris. Còn nền đất nơi nó được in ra thì ở Cheongju, và chỗ ấy bây giờ trống. Hai nửa của cùng một câu chuyện, cách nhau gần hết một vòng bản đồ. Nước nào cũng có những trang giấy của mình đang nằm đâu đó rất xa nhà.
Nếu chỉ giữ lại một cảnh trong tất cả những chuyện vừa kể, thì hãy giữ cảnh đầu tiên.
Một căn phòng yên tĩnh. Một chiếc hộp hạ xuống mặt bàn. Một người lật sách tới trang cuối, đọc mấy dòng chữ nhỏ ở đó, rồi ngẩng đầu lên. Lúc ấy trong phòng không có ai reo lên, không có chuông, không có đèn máy ảnh. Chỉ có một người vừa nhận ra rằng thứ mình đang cầm đã đợi trên giá sách tròn hai mươi năm, và đợi trên đời này gần sáu thế kỷ, để gặp được một người biết đọc nó.