Sông Hương
Một hồi chuông ngân lên từ ngọn đồi bên bờ sông, chậm rãi, trầm ấm, lan dần trên mặt nước rộng. Bên kia sông, tiếng gà trong làng Thọ Cương gáy vọng sang. Giữa tiếng chuông và tiếng gà là một dòng sông, và người xưa đã gói hai âm thanh ấy vào hai câu ca dao còn truyền đến hôm nay.
"Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Cương."
Tiếng chuông ấy là chuông chùa Thiên Mụ. Dòng sông ấy là sông Hương, linh hồn của xứ Huế. Nó không phải con sông dài nhất Việt Nam, cũng chẳng rộng nhất hay nhiều phù sa nhất. Vậy mà chính dòng nước này nối lại cả Quần thể Di tích Cố đô Huế, nơi được UNESCO ghi danh năm một nghìn chín trăm chín mươi ba. Muốn hiểu vì sao, mình phải ngược lên nơi con sông sinh ra.
Sông Hương có hai dòng mẹ, đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn. Dòng thứ nhất là Tả Trạch, chảy về từ vùng Vườn Quốc gia Bạch Mã, dài chừng sáu mươi bảy cây số. Trên đường đi, nó phải nhảy qua năm mươi lăm ngọn thác. Dòng thứ hai là Hữu Trạch, dài chừng sáu mươi cây số, vượt qua mười bốn ngọn thác. Cộng lại là sáu mươi chín lần nước tung mình xuống thác, trước khi hai dòng tìm thấy nhau.
Chúng gặp nhau ở Ngã Ba Tuần, người ta còn gọi là Ngã Ba Bằng Lãng, gần lăng vua Minh Mạng. Chỉ từ chỗ hai dòng hòa làm một ấy, con sông mới thật sự mang tên sông Hương. Từ Ngã Ba Tuần xuôi mãi đến cửa biển Thuận An, dòng sông dài chừng ba mươi ba cây số, chảy ngang qua thành phố Huế.
Nhưng vì sao lại gọi là sông Hương, tức là sông thơm? Chưa ai dám nói chắc. Người xưa kể rằng dọc hai bờ Tả Trạch và Hữu Trạch mọc rất nhiều cây thạch xương bồ, một loài cây có hương thơm, cũng là một vị thuốc trường sanh trong Đông y. Nước khe suối chảy qua đó thấm dần mùi hương, đến khi hợp thành sông lớn vẫn còn thơm. Đây là cách giải thích được nhắc nhiều nhất, nhưng chưa phải duy nhất.
Có người gắn tên sông với chúa Nguyễn Hoàng. Có người gắn với vua Quang Trung Nguyễn Huệ. Cũng có người bảo tên sông chỉ mượn từ hai vùng đất Hương Trà và Hương Thủy mà dòng sông chảy qua. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã lấy chính nỗi băn khoăn ấy đặt tên cho một bút ký rất hay, bút ký "Ai đã đặt tên cho dòng sông?". Một câu hỏi để ngỏ, mà dường như chẳng ai cần trả lời dứt khoát.
Bây giờ, hãy thả trôi theo dòng nước từ Ngã Ba Tuần. Ở vùng thượng nguồn ấy có lăng vua Gia Long và lăng vua Minh Mạng. Xuôi xuống một quãng, chùa Thiên Mụ hiện ra trên đồi Hà Khê bên tả ngạn, và tiếng chuông trong câu ca dao chính là vọng xuống từ nơi này. Rồi sông vào giữa lòng thành phố, đi qua Đại Nội và Phu Văn Lâu. Còn phía nam, bên hữu ngạn, bốn lăng vua nằm gần nhau, là lăng Tự Đức, lăng Thiệu Trị, lăng Đồng Khánh và lăng Khải Định. Dòng sông nối cả một triều đại, từ vị vua mở đầu nhà Nguyễn đến những đời vua về sau.
Giữa lòng sông còn có ba cồn nhỏ là cồn Hến, cồn Dã Viên và Bãi Dâu. Cồn Hến nằm phía đông, nổi tiếng nhờ món cơm hến, một đặc sản của Huế. Hãy hình dung một bát cơm trộn với hến, rắc mè rang và đậu phộng, thêm rau thơm, chút ớt, ăn cùng nước hến. Bùi, giòn, thơm, cay, tất cả trong một miếng. Còn cồn Dã Viên, xưa kia từng là một khu vườn ngự uyển của nhà vua.
Bắc ngang sông là cầu Trường Tiền, biểu tượng thứ hai của Huế, người bạn chẳng bao giờ rời sông Hương. Nhiều người vẫn tưởng cầu do ông Gustave Eiffel thiết kế, vì công ty mang tên ông đã dựng nên tháp Eiffel ở Paris. Thật ra, năm một nghìn tám trăm chín mươi bảy, phần thắng trong cuộc thi chọn người vẽ và dựng cầu thuộc về hai hãng Schneider và Letellier của Pháp. Hãng Eiffel chỉ đến mấy chục năm sau, để sửa sang và mở rộng cây cầu. Cuối năm một nghìn chín trăm, dưới thời vua Thành Thái, cây cầu khánh thành.
Cái tên Trường Tiền có từ một xưởng đúc tiền của triều Nguyễn nằm gần đó. Cầu dài bốn trăm lẻ hai phẩy sáu mét, rộng sáu mét, có sáu nhịp và mười hai vài. Người Huế thương cây cầu đến mức đưa nó vào câu hát.
"Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp, Em theo không kịp tội lắm anh ơi."
Câu hát đếm đảo số nhịp với số vài. Mà người đang cuống quýt đuổi theo thì đâu kịp đếm cho đúng.
Khi trời tối hẳn, sông Hương mới thật sự mở lòng mình ra. Những chiếc thuyền rồng, loại thuyền ngày xưa chỉ dành cho vua chúa đi ngắm cảnh, nay lướt nhẹ trên mặt sông đêm. Trên thuyền, vài khúc nhã nhạc cung đình và những làn điệu ca Huế dân gian cất lên, hòa vào tiếng nước khẽ vỗ mạn thuyền.
Nhã nhạc là thứ âm nhạc bác học và tao nhã của các vua Nguyễn. Lắng nghe thật kỹ một dàn nhã nhạc, cả nhà sẽ nhận ra tiếng đàn nguyệt, đàn nhị, đàn tỳ bà, đàn tranh, tiếng sáo, rồi tiếng trống, tiếng chiêng, cùng dệt nên những bài bản như Phú lục hay Mười bản ngự. Ngày bảy tháng mười một năm hai nghìn không trăm lẻ ba, UNESCO công nhận nhã nhạc cung đình Huế là Kiệt tác Di sản Truyền khẩu và Phi vật thể của nhân loại. Lễ trao chính thức diễn ra ở Paris, ngày ba mươi mốt tháng một năm hai nghìn không trăm lẻ bốn. Lại là Paris, thành phố có ngọn tháp của ông Eiffel.
Cuối chuyến thuyền, từng chiếc đèn hoa đăng được thả xuống sông. Ngọn lửa nhỏ lung linh trên mặt nước tối, chao nhẹ, rồi trôi theo dòng chảy. Một chiếc, hai chiếc, rồi cả một dải sao nhỏ lững lờ xuôi về phía biển.
Nếu cả nhà đứng bên bờ sông lúc ấy, nhìn những đốm lửa xa dần rồi khuất hẳn, sẽ thấy sông thơm, sông thơ, sông nhạc, sông di sản, cái tên nào cũng đúng. Trên đồi Hà Khê, chùa Thiên Mụ chờ hồi chuông mới. Bên kia sông, làng Thọ Cương chờ canh gà. Còn dòng nước chưa ai biết ai đã đặt tên thì vẫn cứ chảy, mang theo hai âm thanh ấy về phía biển, như đã chảy từ bao đời nay.