Chuyen.AIPlaylist
Huế

Văn Miếu Huế

0:000:00

Năm một nghìn tám trăm lẻ tám, vua Gia Long chọn một ngọn đồi nhỏ bên tả ngạn sông Hương, gần Chùa Thiên Mụ, để xây một công trình đặc biệt.

Không phải lăng. Không phải điện. Đây là Văn Miếu Huế, nơi thờ Khổng Tử và lưu danh những người đã đỗ đạt cao nhất trong triều Nguyễn.

Điều đó có nghĩa là gì? Cả nhà hãy để tôi kể.

Khổng Tử sống từ năm năm trăm năm mươi mốt đến năm bốn trăm bảy mươi chín trước Công nguyên, hơn hai nghìn năm trăm năm trước. Ông là người sáng lập Nho giáo, trường phái tư tưởng đã chi phối toàn bộ xã hội phong kiến Đông Á. Từ Trung Quốc đến Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, các triều đại đều xây Văn Miếu để thờ ông. Tại Việt Nam, Văn Miếu Quốc Tử Giám ở Hà Nội xây từ năm một nghìn không trăm bảy mươi thời Lý. Văn Miếu Huế xây năm một nghìn tám trăm lẻ tám là Văn Miếu của cả triều đại Nguyễn.

Điện thờ chính là Đại Thành Điện, thờ Khổng Tử cùng bảy mươi hai môn đệ nổi tiếng nhất và bốn phối thần. Phía sau là Khải Thánh Từ thờ cha mẹ Khổng Tử. Hai bên sân là hai nhà Đông Vu và Tây Vu, chứa ba mươi hai tấm bia đá.

Đó mới là điểm tinh hoa nhất của Văn Miếu Huế.

Ba mươi hai tấm bia khắc tên hai trăm chín mươi ba tiến sĩ triều Nguyễn, từ khoa thi đầu tiên năm một nghìn tám trăm hai mươi hai dưới Minh Mạng đến khoa thi cuối cùng năm một nghìn chín trăm mười chín dưới Khải Định. Chín mươi bảy năm, hai trăm chín mươi ba người.

Mỗi bia ghi họ tên tiến sĩ, khoa thi, quê quán, và thứ hạng đỗ. Đình nguyên là người đỗ cao nhất, rồi đến Bảng nhãn, Thám hoa, và các Tiến sĩ. Cả nhà có thể tìm xem có ai quê ở tỉnh mình không.

Thời phong kiến, đỗ tiến sĩ là vinh dự cao nhất một người thường dân có thể đạt được. Không phân biệt xuất thân, con nhà nghèo cũng có thể thi đỗ nếu đủ tài. Khi tên được khắc vào bia đá Văn Miếu, đó là vinh danh vĩnh cửu. Cả nhà thử nghĩ xem, tên khắc đá trước mặt đó đã ở đây hơn một trăm năm, và sẽ còn ở đây trăm năm nữa.

Hệ thống thi cử triều Nguyễn gồm ba cấp. Thi Hương là cấp tỉnh, đỗ thì được gọi là Cử nhân. Thi Hội là cấp quốc gia tổ chức tại Huế. Và Thi Đình là cấp cao nhất, do chính vua ra đề tại Điện Thái Hòa trong Đại Nội. Đỗ Thi Đình thì mới được gọi là Tiến sĩ và tên được khắc vào bia tại đây.

Cả nhà đến tìm xem tấm bia năm một nghìn chín trăm mười chín nhé.

Tấm bia năm một nghìn chín trăm mười chín, dưới triều Khải Định thứ tư, là tấm bia cuối cùng. Khoa thi đó là khoa thi tiến sĩ cuối cùng của triều Nguyễn, cũng là kỳ thi Hán học cuối cùng trong lịch sử Việt Nam sau chín trăm năm. Ngay năm một nghìn chín trăm mười chín, Pháp bãi bỏ thi cử Nho học, chuyển sang hệ thống giáo dục Pháp-Việt. Những người đỗ khoa thi đó là những tiến sĩ cuối cùng theo Nho học trong lịch sử Việt Nam.

Tấm bia năm một nghìn chín trăm mười chín không chỉ là hồ sơ khoa cử. Đó là lời tạm biệt của một truyền thống chín trăm năm.

So với Văn Miếu Hà Nội có tám mươi hai tấm bia và một nghìn ba trăm lẻ sáu tiến sĩ thời Lý, Trần, Lê, Văn Miếu Huế ít hơn nhưng có giá trị riêng biệt. Đây là bộ hồ sơ hoàn chỉnh duy nhất về tầng lớp trí thức Nho học của triều Nguyễn, chín mươi bảy năm từ một nghìn tám trăm hai mươi hai đến một nghìn chín trăm mười chín.

Ba mươi hai tấm bia. Hai trăm chín mươi ba tên. Hai trăm chín mươi ba câu chuyện về tài năng, nỗ lực và vinh quang. Và trong đó có một tấm bia cuối cùng, lời tạm biệt của cả một truyền thống chín trăm năm.

Câu chuyện gần đây