Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Sự tích Ao Bà Om

0:000:00

Một buổi sáng yên ả, ở một xóm người Khmer Nam Bộ, có đoàn người đi qua ngõ. Đi đầu là cha mẹ một chàng trai, phía sau là họ hàng, tay bưng những mâm lễ. Họ đang sang nhà một cô gái để đặt lời hỏi cưới. Còn bên nhà gái thì ngồi đợi trong nhà mình, chỗ ngồi đã dọn, trà nước đã bày.

Bao giờ cũng vậy. Bên cất bước đi hỏi là đằng trai.

Vì sao lại thành ra như thế, người Khmer Nam Bộ có một câu chuyện riêng để kể. Và câu chuyện ấy bắt đầu từ một cái ao, đào xong trong đúng một đêm.

Đây là truyện cổ của người Khmer Nam Bộ ở vùng Trà Vinh, chuyện ông bà kể lại cho con cháu bên hiên nhà, chứ không phải chuyện có ngày có tháng để tra trong sách sử. Người ta kể nó để nhớ một cái tên, và để nhớ một đêm.

Chuyện kể rằng, ngày xưa vùng đất ấy khô lắm. Mỗi năm, cứ hết mưa là bắt đầu những tháng dài không một giọt nước ngọt từ trời. Ruộng nứt ra thành từng ô, đạp lên nghe rôm rốp dưới chân. Cỏ vàng đi. Lá xoài quắt lại. Trẻ con muốn một gáo nước mát để rửa mặt cũng phải đi xa, xách về từng chút một, đi thật chậm cho nước đừng sánh ra ngoài.

Thế nên một hôm, người trong vùng họp lại dưới bóng cây, bàn với nhau một chuyện lớn. Phải đào một cái ao. Một cái ao thật rộng, thật sâu, để mùa mưa nước dồn vào đó, rồi cả mùa khô cứ ra đó mà múc.

Ai cũng đồng ý. Nhưng khi bàn xong việc ao, có người nhớ ra trong vùng còn một chuyện tranh nhau đã lâu chưa ai chịu ai. Mỗi lần trong làng có một đám cưới, ai phải là người cất bước đi hỏi trước? Bên nam nói bên nữ phải đi. Bên nữ nói bên nam phải đi. Hai bên nói mãi, năm này qua năm khác, vẫn không xong.

Rồi có người nảy ra một ý làm cả bóng cây rộn lên. Hay là gộp hai việc vào một. Chia làm hai bên, bên nam một bên, bên nữ một bên. Mỗi bên tự đào lấy một cái ao. Bên nào đào rộng hơn, sâu hơn, xong trước thì thắng. Bên nào thua thì từ nay về sau phải là bên cất bước đi hỏi cưới, và phải lo lễ vật cho đám cưới nữa.

Cả hai bên vỗ tay. Thế là đã có hẹn. Nghe cái hẹn ấy thì cả nhà đủ biết đêm hôm đó sẽ dài đến chừng nào.

Đêm ấy, dưới trời sao, hai bên chia nhau hai khoảnh đất. Bên nam nhận khoảnh phía tây, kẻ một vòng tròn thật to trên mặt đất rồi bắt đầu đào. Bên nữ nhận khoảnh phía đông, kẻ một hình vuông ngay ngắn bốn góc. Dẫn đầu bên nữ là một người đàn bà tên Om. Bà đi từ đầu bờ đến cuối bờ, chia người ra từng tốp, tốp này xắn đất, tốp kia chuyển đất, tốp nữa đắp bờ, không ai chồng chân lên việc của ai.

Bên nam thì cứ tin ở sức mình. Họ khỏe, ai cũng biết là họ khỏe. Cuốc của họ ăn xuống đất nghe sâu và chắc. Cho nên họ đào một lúc rồi ngồi nghỉ một lúc, nói chuyện, uống nước, cười vang cả khoảnh đất. Còn sớm mà, họ bảo nhau như thế. Sao Mai chưa mọc thì đêm vẫn còn dài.

Bên nữ không cười. Họ cứ đào, đều đều, không nhanh không chậm, như người ta giã gạo. Đất từ lòng ao đi lên thành bờ. Bờ cao dần. Lòng ao trũng xuống, mát rượi, thơm mùi đất ướt.

Đến khoảng nửa đêm, Bà Om đứng trên bờ nhìn xuống ao của bên mình. Sắp xong. Chỉ còn một quãng nữa thôi. Nhưng bà nhìn sang phía tây, thấy ao bên kia cũng đã sâu, và bà biết rằng nếu bên nam thức trọn đêm mà đào thì sức họ vẫn hơn.

Thế là bà bảo mấy người đi cắt về một cây tre. Không phải cây tre thường, mà một cây tre thật dài, dài đến mức phải hai người mới dựng nổi. Bà treo lên đầu ngọn tre một chiếc đèn. Rồi bà cho cắm cây tre ấy xuống đất, ở phía đông, chỗ trống trải nhất, nơi mà từ bên kia nhìn sang sẽ thấy rõ nhất.

Ngọn đèn từ từ được đưa lên cao. Nó lên khỏi ngọn cây, lên khỏi mái nhà, rồi treo lơ lửng một mình trên nền trời đông đen thẫm, sáng và im, không nhấp nháy.

Ở chân cây tre, hai người vừa dựng nó lên đã lùi vào bóng tối, ngồi xuống, im lặng. Từ khoảnh đất phía tây nhìn sang, chẳng ai thấy họ. Chỉ thấy đốm sáng ấy.

Bên nam đang ngồi nghỉ. Một người tình cờ nhìn về phía đông, rồi đứng bật lên, chỉ tay. Kìa, sao Mai. Sao Mai đã mọc rồi. Cả bên nam nhìn theo ngón tay ấy. Ai cũng thấy đúng là một ngôi sao lớn đang treo thấp ở chân trời đông, đúng cái chỗ mà sao Mai vẫn mọc, đúng cái thứ ánh sáng vàng ấm mà sao Mai vẫn có.

Vậy là hết đêm. Hết giờ. Có người còn tiếc, nói thôi đào thêm chút nữa, nhưng đa số đã ngả lưng xuống bờ đất, thở ra một hơi dài. Đêm nay coi như xong. Sáng mai tính tiếp. Họ gối đầu lên cán cuốc mà ngủ, ngủ ngon lành, tin chắc rằng phần mình đã làm đủ.

Bên đông, không ai ngủ. Tiếng cuốc vẫn đi xuống đất, đều đều, nhẹ hơn để đừng dội sang bên kia. Bờ ao vuông được vỗ cho thẳng, bốn góc được sửa cho vuông vắn. Rồi đến lúc trên trời có một ngôi sao nữa mọc lên, ngôi sao thật, mọc cao hơn chiếc đèn và sáng bạc chứ không vàng, thì ao của bên nữ đã xong. Xong hẳn. Nước đêm rịn ra từ lòng đất, đọng lại dưới đáy thành một vũng nhỏ, đủ soi được cả một mảnh trời.

Bên nam thức giấc trong sương. Họ nhìn xuống ao mình. Vẫn còn một vành đất chưa xắn tới, đáy ao vẫn còn chỗ nhấp nhô. Rồi họ nhìn sang bên đông, thấy một cái ao vuông rộng, bờ thẳng, đáy sâu. Bên trên ao ấy còn một cây tre dài cắm nghiêng nghiêng, đầu ngọn treo một chiếc đèn đã tắt ngóm, dây khói mảnh còn vương lại.

Họ hiểu ra. Và họ chịu.

Chuyện kể rằng bên nam không giận, chỉ đứng vỗ vào vai nhau mà bật cười, cái cười của người vừa nhận ra mình bị mắc mưu một cách khéo quá. Thua thì nhận thua. Từ nay bên nam sẽ là bên cất bước đi hỏi. Còn cái ao vuông kia, cả vùng đồng ý gọi nó bằng tên người đàn bà đã nghĩ ra ngọn đèn: Ao Bà Om.

Và từ đó, người Khmer Nam Bộ giữ cái tục ấy. Trai đi hỏi gái. Nhà trai sắm lễ sang nhà gái mà đặt lời. Con sinh ra thì mang họ mẹ, mãi về sau, thời người Pháp cai trị, mới đổi sang mang họ cha. Còn cái tục đi hỏi thì vẫn còn, vẫn diễn ra trong những đám cưới ngày nay, ở những căn nhà có mái ngói đỏ dưới hàng thốt nốt.

Ở Trà Vinh, hai cái ao của đêm ấy vẫn nằm cạnh nhau. Một cái vuông vắn, sâu, đầy nước, và có tên. Một cái nông hơn, mờ hơn, chỉ còn lại dấu. Cả nhà ra đó vào một buổi chiều, cứ đứng giữa hai cái ao mà nhìn về phía đông, phía mà ngọn đèn đã treo lên. Trời ở đó vẫn trống trải như xưa, và sao Mai thì đến giờ vẫn mọc đúng chỗ ấy.

Câu chuyện gần đây