Con Rồng cháu Tiên
Mỗi mùa bão lũ, trên đài, trên báo lại vang lên một tiếng gọi rất ấm: đồng bào. Đồng bào miền Trung. Đồng bào vùng cao. Rồi cả nước hướng về nhau, nhường nhau từng gói mì, từng manh áo. Người miền núi với người miền biển vốn chẳng quen mặt nhau, vậy mà chỉ cần gọi nhau hai tiếng ấy là thấy gần, như người trong cùng một nhà.
Hai tiếng nhỏ thôi, sao lại kéo được những người xa lạ đứng sát lại bên nhau? Ít ai để ý rằng người Việt mình gọi nhau bằng hai tiếng đồng bào là bởi một câu chuyện rất xưa. Chuyện về một cái bọc, và một trăm người con.
Đây là truyền thuyết, là chuyện ông bà mình kể cho con cháu nghe từ đời này qua đời khác, chứ không phải trang sử có ngày có tháng. Sách xưa Lĩnh Nam chích quái chép chuyện này trong Truyện Hồng Bàng thị, và bộ sử cũ Đại Việt sử ký toàn thư cũng có nhắc tới.
Chuyện kể rằng, từ thuở rất xa xưa, khi đất nước còn ở buổi ban đầu, ở miền sông biển có một chàng trai dòng dõi rồng, tên là Lạc Long Quân. Thế giới của chàng là sóng nước mênh mông, là gió mặn thổi không ngơi, là những lớp sóng bạc đầu nối nhau xô vào bờ cát. Còn trên miền núi rừng, có một nàng tiên dịu hiền tên là Âu Cơ. Thế giới của nàng là mây ngàn gió núi, là sương sớm giăng trắng sườn đồi, là tiếng suối reo khe khẽ dưới tán rừng xanh.
Một người của biển, một người của non. Nghe thì tưởng hai thế giới ấy chẳng bao giờ chạm được vào nhau. Vậy mà người xưa kể, Lạc Long Quân và Âu Cơ đã gặp nhau, mến nhau, rồi nên duyên vợ chồng, từ đó về chung một mái nhà.
Rồi nàng Âu Cơ sinh ra, không phải một em bé, mà là một cái bọc. Một cái bọc tròn, nằm lặng im. Bên trong có gì, chưa ai biết.
Ít lâu sau, cái bọc ấy nở ra. Bên trong không phải một quả trứng, cũng không phải mười quả, mà là một trăm quả trứng. Rồi từng quả, từng quả lại nở, mỗi quả trứng thành một người con trai. Cứ thế, từ một cái bọc, cha Rồng mẹ Tiên có một trăm người con trai khỏe mạnh.
Một trăm người đấy. Thử đếm từ một lên đến một trăm mà xem, đếm tới cuối là mỏi cả miệng. Vậy mà cả một trăm anh em ấy cùng một bọc mà ra, cùng một cha, cùng một mẹ.
Một trăm người con ấy không phải người dưng của nhau. Họ là anh em ruột thịt, chung một bọc, chung một tiếng cười, chung một vòng tay cha mẹ. Anh em một bọc thì thương nhau như tay với chân, như môi với răng.
Đàn con lớn lên, khỏe như cây rừng gặp mưa. Nhưng cha thì vốn là người của biển, còn mẹ thì vốn là người của non. Người xưa kể rằng, đến một ngày, cha mẹ chia đàn con ra, mỗi nhóm về một phương trời. Năm mươi người con theo cha xuống biển. Năm mươi người con theo mẹ lên non.
Nghe tới chữ chia, dễ ngỡ là xa nhau, nhưng đây không phải một cuộc chia tay buồn. Cả gia đình như dang rộng hai cánh tay, một cánh tay vươn ra biển, một cánh tay vươn lên núi. Ngoài biển, có anh em mình mở mang nơi sóng nước. Trên non, có anh em mình dựng làng lập bản giữa rừng xanh. Đi tới đâu, đất ấy cũng có người thân.
Trước lúc lên đường, cha Lạc Long Quân để lại một lời hẹn. Người lên núi, người xuống biển, hễ có việc gì thì báo cho nhau biết, đừng quên. Một lời hẹn nghe thật giản dị, vậy mà theo chân các con đi khắp muôn phương, rồi ở lại mãi trong lòng người Việt cho tới tận hôm nay.
Mẹ Âu Cơ đưa năm mươi người con lên đất Phong Châu. Truyền thuyết kể rằng, ở nơi ấy, mọi người cùng nhau tôn người con cả lên làm vua. Người anh cả ở lại Phong Châu, xưng là Hùng Vương, và đặt tên nước là Văn Lang. Những người con khác thì tỏa đi muôn nơi, người miền ngược, người miền xuôi, người miền biển, dần dần làm nên cả một dải đất thân thương.
Cho nên, khi mình gọi một người Việt khác là đồng bào, là mình đang nhắc lại một điều rất đẹp. Đồng bào nghĩa là cùng một bọc sinh ra. Người ấy với mình vốn là anh em, dù ở rừng hay ở biển, ở miền ngược hay miền xuôi. Cũng từ chuyện cái bọc trăm trứng ấy, người Việt mình tự gọi nhau là con Rồng cháu Tiên, con của cha Rồng và mẹ Tiên.
Để nhớ về cội nguồn ấy, người Việt có một nơi để cùng nhau tìm về. Đó là Khu di tích lịch sử Đền Hùng ở Phú Thọ. Trong khu di tích, trên đồi Sim, có ngôi đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân, chính là người cha Rồng trong câu chuyện này. Mỗi năm, cứ đến ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, mùng mười tháng Ba âm lịch, con cháu khắp nơi lại nô nức kéo về. Ông bà ta có câu ca dao: dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng Ba.
Một buổi sáng tháng Ba, nếu cả nhà đứng dưới chân Đền Hùng, sẽ thấy người người chen vai nhau bước lên những bậc đá. Người từ miền núi, người từ miền biển, người từ phương nam xa, người từ phương bắc. Lạ mặt mà không lạ lòng, bởi ai cũng biết mình đang đứng cạnh một người đồng bào. Và giữa dòng người ấy, tiếng gọi vẫn nghe trên đài mỗi mùa bão lũ bỗng trở về, khẽ thôi mà ấm: đồng bào, cùng một bọc mà ra.