Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Sự tích đầm Mực

0:000:00

Trong đám học trò của thầy Chu ở làng Huỳnh Cung, có một cậu chẳng ai biết nhà ở đâu. Sáng nào cậu cũng tới sớm nhất, ngồi đợi thầy khi sương còn đọng trên giậu tre. Áo cậu lúc nào cũng như vừa hong mà chưa kịp khô, tay áo phảng phất hơi nước mát. Và có một lần, người bạn ngồi cạnh khẽ nhặt trên mái tóc cậu xuống một cánh bèo tấm xanh non, thứ bèo chỉ mọc ngoài mặt ao mặt sông.

Cậu học trò ấy từ đâu tới? Người vùng Quang Liệt xưa, nay là Thanh Liệt bên dòng Tô Lịch, vẫn kể lại câu chuyện này mỗi khi có ai hỏi vì sao giữa đồng lại có một cái đầm nước đen đến lạ.

Chuyện truyền rằng, thuở ấy đời nhà Trần, thầy Chu Văn An mở trường dạy học ở làng Huỳnh Cung, ngay bên bờ sông Tô Lịch. Trường của thầy học trò đông nghịt, người ham chữ từ khắp nơi tìm về. Thầy dạy chữ, lại dạy cả cách làm người, nên ai theo học thầy cũng một lòng kính trọng.

Riêng cậu học trò lạ kia thì chăm hơn cả. Cậu đọc sách không biết mỏi, viết chữ nắn nót, thầy giảng điều gì cũng nhớ nằm lòng. Chỉ có điều, cứ tan học là cậu lặng lẽ đi về phía bờ sông, rồi khuất hẳn, chẳng ai theo kịp.

Thầy Chu để ý mãi. Rồi một buổi, khi cậu cúi đầu chào ra về, thầy thoáng thấy trên chỏm tóc cậu vương một cánh bèo tấm, y hệt thứ bèo trôi ngoài sông. Thầy chợt hiểu. Người học trò chăm ngoan này không phải người thường. Cậu là con vua Thủy, từ dưới dòng nước lên xin theo học chữ thánh hiền.

Biết vậy, nhưng thầy không hề ngại, cũng chẳng đổi cách đối với cậu. Trước sau thầy vẫn dạy cậu ân cần như mọi học trò khác, có phần còn thương hơn, vì hiểu tấm lòng ham học đã đưa cậu vượt cả một dòng sông để tới lớp.

Năm ấy, trời làm hạn. Hết tháng này sang tháng khác không một giọt mưa. Rồi hạn cứ kéo dài năm này qua năm khác, đồng ruộng quanh vùng Thanh Đàm nứt nẻ, mạ non cháy vàng, giếng làng trơ đáy. Người ta gánh từng thùng nước đục về, chắt chiu từng ngụm. Tiếng trẻ con khát nước khóc ran trong những buổi trưa nắng gắt.

Nhìn cảnh ấy, thầy Chu đau lòng lắm. Một hôm, thầy gọi cậu học trò con vua Thủy lại, nhỏ nhẹ hỏi cậu có cách nào giúp dân qua cơn hạn này chăng.

Cậu học trò lặng đi một lúc lâu. Rồi cậu thưa với thầy, giọng vừa thương vừa lo. Làm mưa vốn là việc của nhà trời, kẻ dưới nước như cậu mà tự ý làm mưa là trái lệnh thiên đình, ắt phải chịu tội nặng. Nhưng nhìn đồng khô, nhìn dân đói khát, cậu không đành lòng đứng ngó. Cậu xin làm, để cứu lấy mùa màng, cứu lấy dân làng đã cưu mang mình.

Nói rồi, cậu bước tới án thư của thầy. Trên án có nghiên mực thầy vẫn dùng mài mực dạy học, lại có cả quản bút lông. Cậu nâng nghiên mực lên, cầm lấy quản bút, nhúng vào mực rồi vẩy mạnh lên trời. Cậu vẩy hết lần này tới lần khác, mực đen mực đỏ tung lên như mưa bụi.

Lạ thay, những giọt mực đỏ vừa chạm mây liền hóa thành chớp giật, thành sấm rền vang cả một góc trời. Những giọt mực đen thì loang ra thành mây, mây đen kịt kéo về đùn lên chồng chất. Chỉ một lát sau, gió nổi ào ào, rồi mưa. Mưa thật. Mưa xối xả trút xuống cánh đồng đang khát, đổ đầy ao đầy giếng, thấm vào từng luống đất nứt.

Cả vùng Thanh Đàm reo lên trong mưa. Người lớn ngửa mặt hứng nước, trẻ con chạy nhảy dưới trời mưa mà cười vang. Lúa hồi sinh, đồng lại xanh. Cậu học trò con vua Thủy đã cứu được cả một vùng dân qua cơn hạn.

Nhưng cứu được dân rồi, cậu biết mình phải đi. Cậu đã trái lệnh nhà trời, không thể nấn ná ở chốn này thêm nữa. Trong cơn mưa còn chưa dứt, cậu tới bên thầy, cúi lạy tạ ơn thầy đã dạy dỗ bấy lâu, rồi lặng lẽ quay về phía dòng sông. Cậu bước xuống nước, trở về với dòng nước đã sinh ra mình, bóng khuất dần sau làn mưa trắng xóa, không trở lại nữa.

Thầy Chu đứng lặng bên bờ, thương người học trò hiền lành đã dám đánh đổi tất cả để đổi lấy một trận mưa cho dân. Để nhớ ơn cậu, thầy cho lập một ngôi miếu nhỏ ngay bên vùng nước, sớm chiều hương khói. Ngôi miếu ấy, người Thanh Liệt vẫn gọi là miếu Gàn, đến nay còn được dân bảy làng quanh vùng thành kính thờ phụng.

Còn cái nghiên mực của thầy Chu hôm ấy thì sao? Khi cậu học trò vẩy mực làm mưa, nghiên mực đổ nghiêng, mực chảy tràn ra, theo dòng nước loang đi. Mực thấm xuống một vùng ao trũng ở làng Quỳnh Đô, nhuộm cả mặt nước thành một màu đen thẫm. Từ đó vùng nước ấy thành một cái đầm, nước quanh năm sẫm như màu mực, người ta gọi là đầm Mực. Còn quản bút thì trôi xuôi về tận làng Tó, nơi về sau nổi tiếng có nhiều người hay chữ.

Cả nhà mà có dịp về Thanh Liệt, xuôi theo dòng Tô Lịch cũ, hỏi người già trong làng, thế nào cũng có người chỉ cho cái đầm nước sẫm màu nằm lặng lẽ giữa đồng. Nước đầm ấy đến giờ vẫn phảng phất một màu đen, như còn giữ lại vệt mực của buổi chiều mưa năm xưa. Và bên đầm, khói hương miếu Gàn vẫn ấm, nhắc người qua lại nhớ về một người học trò từ dưới nước, đã vì thương dân mà dám làm một trận mưa.

Câu chuyện gần đây