Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Sự tích đền Bạch Mã và con ngựa trắng vạch thành Thăng Long

0:000:00

Bức tường ấy không chịu đứng.

Buổi sáng, người ta đắp nó lên cao ngang vai. Đất được gánh tới từng sọt, đổ xuống, giậm cho chặt, vỗ cho phẳng. Đến chiều, những người thợ quay lại nhìn thì bức tường ấy đã thấp đi. Đất tụt xuống, xoà ra hai bên, mềm nhũn như một đống bùn vừa ngồi xuống nghỉ.

Không ai hiểu vì sao.

Chuyện ấy người Việt mình kể lại cho nhau nghe đã lâu lắm rồi. Chuyện xảy ra ở một chỗ mà bây giờ cả nhà biết rất rõ. Đó là Hà Nội. Nhưng hồi đó nó chưa mang tên Hà Nội.

Năm một nghìn không trăm mười, vua Lý Thái Tổ chuyển kinh đô. Kinh đô cũ tên là Hoa Lư. Vua chọn một vùng đất rộng và bằng phẳng, khi ấy gọi là Đại La. Rồi vua đặt cho vùng đất ấy một cái tên mới, cái tên nghe là thấy bay lên: Thăng Long, nghĩa là rồng bay lên.

Kinh thành mới thì cần một bức tường quanh nó.

Thời ấy thành không đắp bằng xi măng, cũng không đúc bằng bê tông. Thành đắp bằng đất. Người ta gánh đất, đổ thành một dải dài, giậm cho thật chặt, rồi đắp tiếp lên trên. Làm giỏi thì bức tường đất ấy cứng như đá, đứng được rất lâu.

Vậy mà bức tường này cứ tụt.

Họ thử lại. Lần này chân tường đắp rộng hơn, đất chọn kỹ hơn, giậm lâu hơn. Sáng hôm sau, mưa xuống một cơn. Nước mưa chảy men theo dải đất mới, và đất lại trôi.

Họ thử ở một khúc khác. Cũng thế.

Những người thợ ấy không yếu tay. Đất thì tốt, tay thì quen. Vậy mà chỗ nào đắp lên, chỗ ấy cũng tụt. Không ai biết bức tường nên đi qua đâu.

Tin về bức tường không đứng được đến tai vua Lý Thái Tổ.

Vua ngồi lặng một lúc. Rồi vua đi hỏi.

Ở phía đông vùng đất ấy có một ngôi đền nhỏ. Đền thờ vị thần giữ đất của cả vùng, tên gọi là thần Long Đỗ. Người quanh đó tin rằng vị thần ấy đã ở đây từ trước, rất lâu trước cả khi có kinh thành, và biết vùng đất này từng gốc cây, từng vũng nước.

Người ta vẫn kể rằng vua cho người đến đền, đặt hương, và khấn. Lời khấn không dài. Vua chỉ xin thần cho biết bức tường nên đi qua những đâu.

Rồi cả đoàn người đứng đợi ngoài sân đền.

Người mình kể rằng lúc ấy trong đền có tiếng chân. Từ trong đền, một con ngựa trắng đi ra.

Trên lưng nó không có yên, không có dây. Không ai dắt. Con ngựa trắng ấy, lông trắng như vôi mới, tự bước qua bậc cửa đền, ra tới giữa sân, rồi đi tiếp ra phía ngoài.

Con ngựa không chạy. Nó đi, chậm và đều, như một người biết rất rõ mình đang đi đâu.

Nó đi về phía đông trước. Đất còn ướt sau cơn mưa, mềm dưới vó, và mỗi bước chân của nó lún xuống một vệt tròn nho nhỏ. Rồi nó vòng lên phía bắc. Rồi nó rẽ sang phía tây. Rồi nó quay xuống phía nam. Bốn phía. Một vòng.

Con ngựa trắng đi hết cái vòng ấy. Đến cuối vòng, nó trở về đúng cửa ngôi đền lúc đầu.

Nó bước vào trong.

Và nó biến mất.

Cả đoàn người vẫn đứng đó, im lặng, nhìn cái sân đền trống. Sân đền chỉ có gió, và mùi hương thơm.

Nhưng trên mặt đất thì vẫn còn một thứ.

Một vòng dấu chân ngựa in rõ trên đất mềm, chạy dài qua bốn phía rồi khép lại về đúng chỗ nó bắt đầu.

Một vòng kín. Cái vòng ấy đơn giản đến mức một ngón tay đưa trên mặt bàn cũng vẽ lại được.

Vua Lý Thái Tổ ra xem cái vòng dấu chân ấy.

Rồi vua truyền một lệnh rất ngắn. Đắp thành đúng theo vệt chân ngựa. Không lệch ra ngoài, không thu vào trong. Vệt chân đi đâu, chân tường đi đấy.

Những người thợ lại gánh đất tới.

Lần này họ đặt chân tường lên đúng đường vết chân, giậm chặt, đắp lên cao dần. Chiều đến, họ quay lại nhìn.

Bức tường vẫn đứng.

Hôm sau, nó vẫn đứng. Mưa xuống, nước chảy men theo chân tường rồi chảy đi, mà đất không trôi. Bức tường cứ thế cao thêm, dài thêm, chạy vòng quanh kinh thành Thăng Long, khép lại đúng như cái vòng con ngựa trắng đã đi.

Khi thành xong, vua Lý Thái Tổ không quên chỗ đã chỉ đường cho mình.

Vua phong cho vị thần trong ngôi đền ấy một tước hiệu: Thành hoàng quốc đô Thăng Long, nghĩa là vị thần giữ gìn cả kinh đô. Và vua đặt cho ngôi đền một cái tên mới.

Vua gọi nó là đền Bạch Mã. Bạch là trắng. Mã là ngựa.

Từ mùa đắp thành ấy đến bây giờ, phố đã xây lên trên, rồi phố khác xây lên nữa, suốt hơn một nghìn năm.

Ngôi đền thì vẫn ở đúng chỗ cũ, trên phố Hàng Buồm, và người ta vẫn gọi đấy là đền trấn phía Đông của kinh thành.

Vòng dấu chân ngựa trắng ngày ấy thì không ai còn thấy nữa. Chuyện kể rằng nó nằm dưới chỗ mà bây giờ là mặt đường.

Cái tên vua đặt hôm ấy thì người Hà Nội vẫn dùng đến giờ. Đi qua phố Hàng Buồm hỏi thăm, cả nhà sẽ được chỉ ngay vào một ngôi đền cũ: đền Bạch Mã.

Câu chuyện gần đây