Sự tích Hồ Ba Bể
Giữa mênh mông sóng nước Hồ Ba Bể, có một hòn đảo nhỏ nằm im lìm, xanh mướt cây cối, bốn bề là nước trong vắt soi bóng núi. Từ trên thuyền nhìn vào, nó trông thật bình yên, chỉ là một mảnh đất bồng bềnh giữa hồ. Nhưng người dân quanh đây biết rằng hòn đảo ấy không phải tự nhiên mà có. Đằng sau nó là một câu chuyện xưa, một câu chuyện về lòng tốt, mà ông bà ở vùng này vẫn kể cho con cháu nghe mỗi khi chiều buông trên mặt hồ.
Đây là một truyện cổ tích dân gian, cả nhà nhé, được học giả Nguyễn Đổng Chi sưu tầm và ghi lại trong bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Chuyện không có ngày có tháng rõ ràng, chỉ có một bà lão lạ, hai mẹ con nghèo, và cả một vùng nước mênh mông sinh ra từ một đêm.
Chuyện kể rằng, thuở xưa, ở vùng Nam Mẫu thuộc đất Bắc Kạn bây giờ, chưa hề có hồ. Nơi ấy chỉ có làng bản trù phú, ruộng nương bằng phẳng, người người làm ăn yên ấm. Một năm nọ, dân trong vùng mở một lễ hội lớn để cúng Phật, người ta gọi là lễ Vô Già. Từ khắp các bản mạn ngược, già trẻ gái trai nô nức kéo về tề tựu. Tiếng cười nói rộn ràng, mùi hương nhang thơm ngát, khói bếp và mùi xôi mới quyện vào nhau trong gió. Ai nấy đều náo nức, lòng nhẹ tênh trong những ngày hội vui.
Giữa lúc cả vùng đang tưng bừng như thế, một bà lão ăn mày từ đâu lần tới. Bà già nua, lưng còng, quần áo rách rưới, người lại lở loét, bẩn thỉu, bốc mùi khó chịu. Bà chống gậy đi từ đám hội này sang đám hội khác, chìa tay xin một miếng ăn cho đỡ đói. Nhưng nhìn thấy bà, ai cũng nhăn mặt lùi xa. Người thì xua tay đuổi đi, người thì nói nặng lời, sợ bà mang bệnh, sợ bà làm bẩn mâm cỗ. Cả một vùng đang mở hội cúng Phật, vậy mà chẳng một ai chịu chia cho bà lão một bát cơm.
Trời tối dần. Bà lão vẫn lủi thủi một mình, bụng đói, chân mỏi, đi tìm một mái nhà cho qua đêm. Nhưng gõ cửa nhà nào, bà cũng bị từ chối.
Mãi rồi bà đến được một ngôi nhà nhỏ nghèo nàn ở cuối bản. Chủ nhà là một bà mẹ góa, một mình nuôi con, nhà chẳng dư dả gì. Thấy bà lão run rẩy đứng ngoài cửa trong bóng tối, người mẹ không nỡ làm ngơ. Bà mời bà lão vào nhà, dọn ra phần cơm ít ỏi còn lại, mời bà lão ăn cho ấm bụng. Ăn xong, người mẹ lại trải chỗ nằm trong góc nhà, nhường cho bà lão một chỗ nghỉ qua đêm. Mẹ con bà chẳng giàu có gì, nhưng có bao nhiêu lòng tốt thì đem ra cả bấy nhiêu.
Đêm khuya, khi mọi vật đã yên ắng, hai mẹ con bỗng giật mình thức giấc. Trong nhà có một thứ ánh sáng kỳ lạ. Nhìn sang chỗ bà lão nằm, hai mẹ con sững người. Nơi ấy không còn là một bà lão ăn mày nữa, mà là một con giao long lớn, mình cuộn tròn, sáng rực, đầu gác lên xà nhà. Hai mẹ con sợ quá, nhưng rồi lại nhắm mắt nằm im, bụng vẫn thầm thương người khách lạ.
Đến sáng, bà lão lại trở về hình dáng cũ. Trước khi từ biệt, bà nhìn hai mẹ con bằng ánh mắt hiền từ và nói cho họ biết sự thật. Bà không phải người thường, bà tới đây là để xem giữa bao nhiêu người dự hội cúng Phật, ai mới thật sự có lòng Phật trong tim. Rồi bà ghé tai dặn nhỏ, sắp tới đây sẽ có một trận lụt rất lớn. Bà trao cho hai mẹ con một gói tro, dặn đem rắc quanh nhà ngay trong đêm, nước sẽ không tràn vào được. Đoạn, bà lấy trong người ra một hạt thóc, cắn tách đôi lớp vỏ trấu, đưa cho hai mẹ con hai mảnh vỏ ấy mà dặn giữ thật kỹ, khi nào nước dâng thì đem thả xuống, ắt sẽ có cái dùng. Dặn xong, bà lão biến mất, chẳng còn thấy đâu nữa.
Hai mẹ con làm theo lời. Họ rắc tro quanh nhà, rồi cất giữ cẩn thận hai mảnh vỏ trấu nhỏ xíu.
Tối hôm ấy, khi dân làng vẫn còn đang tụ họp cúng lễ, thì mặt đất bỗng khẽ rung lên. Rồi từ dưới lòng đất, nước theo nhau trào lên, mỗi lúc một mạnh, một nhiều. Chỉ trong chốc lát, nước đã dâng lên mênh mông, lan ra khắp cả vùng. Làng bản, ruộng nương, những nếp nhà đã từng đóng cửa với bà lão, tất cả dần khuất dưới làn nước.
Nhưng lạ thay, riêng ngôi nhà nhỏ của hai mẹ con bà góa thì vẫn bình yên. Vòng tro bà lão dặn rắc đã giữ cho nền nhà nổi cao lên, nước cứ dâng tới đâu thì nền nhà như được nâng lên tới đó, vững vàng giữa biển nước.
Nhớ lời bà lão dặn, hai mẹ con vội lấy hai mảnh vỏ trấu ra thả xuống nước. Vừa chạm mặt nước, hai mảnh vỏ bé nhỏ bỗng hóa thành hai chiếc thuyền. Thế là hai mẹ con bước lên thuyền, gắng sức chèo đi giữa dòng nước mênh mông. Họ chèo tới những nơi có người đang chới với, đưa tay kéo từng người lên thuyền, rồi lại chèo đi tìm những người khác. Cứ thế, suốt đêm ấy, hai mẹ con nghèo nhất bản lại là người ra tay cứu giúp được nhiều người nhất. Lòng tốt của họ, đến lúc này, đã hóa thành hai con thuyền chở đầy thương yêu.
Khi nước lặng và trời sáng trở lại, cả vùng đã đổi khác. Nơi làng bản ngày xưa giờ là một mặt hồ rộng lớn, nước trong xanh như ngọc, in bóng mây trời và những dãy núi đá vây quanh. Mặt hồ chia thành ba nhánh thông nhau, mà người dân nơi đây gọi bằng tiếng của mình là Pé Lầm, Pé Lù và Pé Lèng. Ba nhánh, ba vùng nước nối liền một dải, và cái tên Ba Bể ra đời từ đó.
Giữa lòng hồ mới ấy, có một hòn đảo nhỏ nổi lên. Người ta kể rằng đó chính là nền nhà của hai mẹ con bà góa, không bị nước nhấn chìm vì lòng nhân lành của chủ nhân đã che chở nó. Người đời sau gọi hòn đảo ấy là Gò Bà Góa, cũng có nơi gọi là đảo Bà Góa, để nhớ mãi tấm lòng của người mẹ nghèo đêm ấy. Trong hồ còn có thêm một hòn đảo nữa, người ta gọi là đảo An Mã, lặng lẽ soi mình xuống làn nước biếc.
Cả nhà thấy không, một đêm thôi, một gói tro nhỏ và hai mảnh vỏ trấu nhỏ, vậy mà đã đổi thay cả một vùng đất. Nhưng thứ làm nên phép màu ấy không phải là tro hay vỏ trấu. Mà chính là tấm lòng. Là bát cơm sẻ chia khi nhà mình cũng chẳng còn dư. Là chỗ nằm nhường cho một người lạ lở loét mà ai cũng xa lánh. Và rồi, là đôi tay chèo thuyền suốt đêm để cứu lấy chính những người từng quay lưng.
Câu chuyện ông bà kể lại thường khép lại bằng một hình ảnh thật êm đềm. Mặt Hồ Ba Bể phẳng lặng dưới trời chiều, và hòn đảo nhỏ của bà mẹ góa nằm im giữa nước, xanh thắm và bình yên, như một lời nhắc hiền lành còn ở lại mãi với đời.
Cả nhà ơi, nếu có dịp về Bắc Kạn, được ngồi trên thuyền lướt giữa ba nhánh Pé Lầm, Pé Lù và Pé Lèng, ngắm hòn đảo nhỏ lặng lẽ giữa mặt nước trong xanh, thì cả nhà đã biết câu chuyện ẩn sau cảnh đẹp ấy rồi. Đó không chỉ là một hòn đảo. Đó là dấu vết của một đêm mà lòng tốt đã được nhớ đến, và cả một mặt hồ bao la kia vẫn còn đó, dịu dàng kể lại cho chúng ta nghe rằng, sống ở đời, thương người là điều quý giá nhất.