Sự tích ông đầu rau
Bà bưng một chiếc chậu nhỏ ra bờ ao sau nhà, tay dắt theo đứa cháu. Trong chậu là một con cá chép đỏ, quẫy nhẹ, vảy lấp lánh dưới nắng hanh cuối năm. Hôm ấy đã là chiều hai mươi ba tháng Chạp. Bà nghiêng chậu xuống mặt nước. Con cá búng đuôi một cái, vẽ một vòng tròn lăn tăn rồi lặn mất. Cháu ngẩng lên hỏi bà thả cá đi đâu. Bà cười, bảo con cá ấy đang chở ông Táo lên trời.
Rồi bà kể. Đây là chuyện ông bà mình vẫn kể lại mỗi khi Tết gần về, mỗi khi khói bếp cuối năm lại thơm. Chuyện về vì sao trong gian bếp nhà mình lại có ba ông đầu rau chụm đầu giữ lửa.
Ngày xửa ngày xưa, có một đôi vợ chồng nghèo tên là Trọng Cao và Thị Nhi. Nhà chẳng có gì ngoài một mái tranh và một gian bếp nhỏ, nhưng hai người thương nhau lắm. Sớm tối có nhau, đói no cũng có nhau. Chiều nào bếp cũng đỏ lửa, hai vợ chồng ngồi bên nồi cơm mà thấy cả nhà ấm áp.
Nhưng rồi năm ấy mất mùa, đói kém khắp nơi. Ruộng khô, lúa lép, trong nhà chẳng còn gì để ăn. Trọng Cao đành từ biệt vợ, đi thật xa để tìm việc làm, tìm miếng ăn mà gửi về. Trước lúc đi, chàng cầm tay vợ dặn dò, rằng chàng sẽ cố về sớm, chờ chàng nhé. Thị Nhi đứng ở đầu ngõ nhìn theo bóng chồng khuất dần sau con đường, lòng nặng trĩu.
Chàng đi biền biệt. Một năm, rồi hai năm, rồi bảy năm ròng vẫn không một tin tức. Đường xa cách trở, thư từ chẳng có, Thị Nhi ngày ngày ra ngõ ngóng mà bóng chồng vẫn không thấy về. Người trong làng đều bảo có lẽ chàng đã gặp chuyện chẳng lành nơi đất khách. Thị Nhi khóc cạn nước mắt, cứ nghĩ mình đã mất chồng thật rồi.
Ít lâu sau, trong làng có một người đàn ông hiền lành tên là Phạm Lang. Thấy Thị Nhi côi cút một mình, anh thường qua lại giúp đỡ, khi gánh nước, khi bổ củi. Lâu dần, thương cảnh nàng lẻ loi, anh ngỏ lời muốn cùng nàng nương tựa nhau mà sống. Thị Nhi ngần ngừ mãi, nhưng nghĩ chồng cũ chắc không còn, nàng bằng lòng. Hai người nên vợ nên chồng. Phạm Lang hết mực yêu thương nàng, gian bếp nhỏ lại đỏ lửa, lại có tiếng cười.
Ai ngờ đâu, chính lúc ấy Trọng Cao trở về.
Bao năm lưu lạc, làm lụng cực nhọc, chàng chỉ mong ngày về gặp lại vợ. Nhưng khi đặt chân tới đầu làng, chàng lặng người. Người vợ chàng thương nhớ bấy lâu nay đã có một mái nhà mới, một người chồng mới hiền lành. Trọng Cao đứng nhìn từ xa, nước mắt lưng tròng. Chàng thương Thị Nhi, nên chàng không muốn bước vào khuấy động hạnh phúc mới của nàng. Chàng chỉ lặng lẽ đứng đó, ôm nỗi buồn của riêng mình.
Ba con người ấy, mỗi người mang một nỗi lòng, mà lòng nào cũng chỉ có thương chứ không có một lời trách. Nhưng lòng người có thương nhau đến mấy, thì ông trời vẫn còn thử thách. Rồi số phận trớ trêu đưa cả ba lìa xa cõi đời trong cùng một buổi chiều buồn. Chẳng ai kịp nói với ai thêm một lời nào.
Bà kể đến đây thì dừng lại, vuốt tóc cháu, giọng bà chùng xuống. Nhưng cháu đừng vội buồn, vì phần ấm áp nhất vẫn còn ở phía trước.
Ba người được đưa lên trước Ngọc Hoàng Thượng Đế trên thiên đình. Ngọc Hoàng hỏi từng người. Và cả ba, chẳng ai giấu giếm, đều thành thật kể ra tấm lòng mình. Thị Nhi thưa rằng nàng thương cả người chồng đầu đã cùng nàng qua cơn đói khổ, lại thương cả người chồng sau đã cưu mang nàng lúc côi cút. Trọng Cao thưa rằng chàng vẫn thương vợ, nên mới lặng lẽ rút lui để nàng được yên vui. Đến lượt Phạm Lang, chàng chỉ khẽ nói rằng mình cảm phục tấm lòng thủy chung của cả hai người kia.
Ngọc Hoàng nghe xong thì lặng đi hồi lâu. Ngài thấy ở ba con người này không có một chút hờn ghen hay oán trách nào, chỉ có tình thương và sự tha thứ dành cho nhau. Một tình thương hiếm có trên đời.
Cảm động trước tấm lòng ấy, Ngọc Hoàng không nỡ chia lìa ba người. Ngài cho cả ba mãi mãi được ở bên nhau, ngay bên chỗ ấm áp nhất của mỗi mái nhà, là gian bếp. Ba người hóa thành ba ông đầu rau, ba hòn đá chụm đầu vào nhau, cùng nhau đỡ lấy chiếc nồi và cùng nhau giữ ngọn lửa cho gia đình.
Ngọc Hoàng còn giao cho mỗi người một việc, để ba người cùng lo cho một tổ ấm. Phạm Lang giữ việc bếp núc cơm nước, Trọng Cao trông nom nhà cửa trong ngoài, còn Thị Nhi lo chuyện chợ búa áo cơm. Ba tấm lòng chụm quanh một ngọn lửa, che chở cho gia đình lúc nào cũng no đủ và thuận hòa. Người Việt mình gọi chung ba vị là Táo Quân, là ông Công ông Táo.
Kể đến đây, cháu chợt hiểu vì sao chiều nay bà lại thả con cá chép xuống ao. Truyền thuyết kể rằng mỗi năm, cứ đến ngày hai mươi ba tháng Chạp, ba vị Táo lại cưỡi cá chép vượt chín tầng mây lên chầu Ngọc Hoàng. Các Táo lên đó để thưa lại với trời chuyện một năm vừa qua của gia đình, ai chăm ngoan, nhà nào thuận thảo, có điều gì vui buồn. Thế nên con cá chép được thả xuống ao, xuống sông, là để làm chú ngựa đưa các Táo lên đường.
Kể từ đó, mỗi độ cuối năm, nhà nhà lại sửa soạn tiễn ông Táo về trời. Người ta dọn dẹp gian bếp cho sạch sẽ, bày mâm cỗ nhỏ, rồi thả cá chép ra sông ra ao. Trong tiết trời se lạnh của những ngày giáp Tết, đó là một phong tục ấm áp mà người Việt mình gìn giữ tới hôm nay.
Cháu nghe xong, quay vào bếp, nhìn ba hòn đá đen bóng đang đỡ chiếc nồi trên ngọn lửa liu riu. Ba hòn đá vẫn chụm đầu vào nhau như thế, lặng lẽ giữ lửa, giữ hơi ấm cho cả nhà, y như câu chuyện bà vừa kể. Ngoài ao, mặt nước đã lặng, chú cá chép đỏ đã đi xa. Trong bếp, lửa vẫn reo tí tách, và mùi cơm mới thơm lừng đang chờ cả nhà ngồi lại quây quần bên nhau.