Sự tích vết trắng dưới cổ trâu
Dưới cổ con trâu, ngay chỗ trước ức, thường có một vết trắng. Vết ấy mờ mờ, vắt ngang cổ trâu như một cái khăn vừa mới buộc. Lông trâu xám đen bóng nước, chỉ riêng chỗ ấy là trắng. Nó có thật, và người Hà Nhì có một câu chuyện rất xưa để trả lời cho nó.
Muốn nghe chuyện này thì phải lên tận Mường Tè của Lai Châu, hay Bát Xát của Lào Cai, nơi nhóm Hà Nhì Đen ở vùng Y Tý quanh năm mây phủ. Người Hà Nhì ở đấy dựng nhà trình tường, tường đất nện dày và mát, nện hoàn toàn bằng tay người. Nước dẫn về, bờ xếp lên, thành những thửa ruộng bậc thang leo từng nấc lên gần đỉnh núi. Ở một bản trên đất Mường Tè, ông Pờ Xì Giá đã kể lại chuyện này.
Ngày xưa có một chàng trai tên Trà Lớ, mồ côi cha mẹ từ khi còn đỏ hỏn, sống thui thủi trong một túp lều rách. Chàng làm quần quật quanh năm mà ăn không đủ no, mặc không đủ ấm.
Một lần đi làm rẫy về, Trà Lớ gặp mấy đứa con nhà xú cà, tức là nhà giàu có quyền thế trong vùng. Đám ấy đang xúm lại đánh một con chó đen gầy còm, rồi cười thích chí bỏ đi, để mặc nó nằm rũ bên đường.
Trà Lớ động lòng, bế con chó về nhà. Chàng chăm nó như một người bạn, nhường nó phần cơm, sưởi cho nó bên bếp. Qua nhiều lần mặt trời mọc rồi lặn, con chó khỏe khoắn trở lại, và bếp lều vui hẳn lên.
Lại một mùa nương nữa đến. Trà Lớ đi phát nương, làm từ mờ sáng đến khi mặt trời xuống núi mới về. Bước vào nhà, chàng đứng sững. Nhà cửa gọn gàng sạch sẽ, lại có cả mâm cơm đậy điệm kỹ lưỡng, còn ấm hơi.
Chàng nhảy ra cửa, gọi to về phía rừng, mời người tốt bụng ấy vào ăn cơm. Gọi gần không ai đáp. Gọi xa thì chỉ có núi rừng nhại lại giọng chàng. Hôm sau vẫn thế, cơm ngon canh ngọt hãy còn nóng mà gọi mãi chẳng ai lên tiếng.
Đến ngày thứ ba, chàng vẫn ra khỏi nhà như thường, nhưng đến nửa đường thì quay về, đứng rình sau vách. Một lúc sau, một người con gái từ trong cửa đi ra, mặt đỏ như hoa đào mùa hè, da trắng như nõn chuối rừng. Trà Lớ bước tới trước mặt cô. Cô luống cuống định chạy nhưng bị giữ lại.
Cô gái nhận là chính cô nấu cơm, chỉ không dám ra ăn cùng vì sợ cơm sống canh nhạt. Rồi cô nói một câu làm Trà Lớ ngẩn người: chàng đã cứu em, cha mẹ cho em đến ở cùng chàng.
Trà Lớ lắc đầu quầy quậy, nói mình xấu người lại nghèo, trong nhà chỉ có một con chó, sao nên vợ nên chồng được. Cô gái mỉm cười, bảo chàng không xấu, chàng đẹp nhiều ở trong bụng. Bụng người nghèo mới biết thương người nghèo, thương cả kẻ bị người khác đánh đuổi. Rồi cô nói: em chính là con chó chàng chăm sóc bấy nay, không tin thì ngó xuống gầm giường mà xem.
Trà Lớ chợt nhớ ra, từ lúc về chẳng thấy con chó đen chạy ra mừng. Chàng cúi nhìn gầm giường. Con chó không còn ở đó, chỉ còn tấm da chó vừa trút bỏ.
Từ đó hai người thành vợ thành chồng. Sáng cùng lên nương, chiều mây xuống thấp thì cùng về, đi trước đi sau trên bờ ruộng hẹp, như đôi chim cu.
Được một, hai mùa trăng, người vợ bảo chồng đi chọn chỗ đất làm nhà to hơn, có cả chuồng gà, chuồng lợn, chuồng trâu. Nàng nói chỉ một đêm là làm được. Chàng không tin, nhưng vẫn ra cắm cây quanh một miếng đất rộng. Tối ấy nàng dặn: đêm nay mưa to gió lớn cũng cứ nhắm mắt ngủ yên, đừng mở mắt nhìn, kẻo hỏng việc.
Quá nửa đêm, sấm chớp nổi lên ầm ầm. Mưa đổ như trút cả bầu trời. Rồi tự nhiên im bặt.
Sáng ra, Trà Lớ mở mắt. Tay chàng chạm phải một vách nhà mát lạnh, không phải tấm phên rách của lều cũ. Trên đầu là mái một ngôi nhà cao rộng, ngoài sân tiếng người giúp việc đi lại nườm nượp, tiếng gà, tiếng lợn, tiếng trâu ngựa cả đàn. Từ đấy nhà chàng giàu có nhất vùng.
Tin ấy bay khắp vùng. Bọn xú cà không tin, rủ nhau đến xem. Đến khi tận mắt thấy sân nhà chàng, đứa nào cũng thèm thuồng, rồi trong bụng dấy lên lòng ghen. Từ đó, mỗi khi gặp Trà Lớ, chúng lại lựa lời ác cho lọt vào tai chàng. Giàu mà lấy vợ chó cũng bằng không, sao mày không đuổi nó đi, tao gả con gái đẹp của tao cho.
Nghe một lần, Trà Lớ đã kém vui. Nghe hai lần, ba lần, chàng bắt đầu thấy chúng nói có lý. Như nước nhỏ mãi mài mòn hòn đá, lòng chàng dần thay đổi. Trước kia chàng thương vợ là thế, giờ nhìn thấy vợ là con mắt đã hằn học.
Người vợ vẫn kiên gan khuyên chồng đừng nghe những lời ấy. Chàng không nghe, còn trợn mắt quát mắng nàng.
Một hôm, chúng giữ chàng lại thật lâu, rót thêm vào tai chàng bao nhiêu câu xấu độc. Trà Lớ chạy về mắng vợ, bắt nàng đi khỏi nhà cho khuất mắt.
Vợ Trà Lớ rưng rưng. Nàng nói nghe lời bọn xú cà, bụng chàng không còn biết đâu trắng đâu đen. Nay mai chàng sẽ không còn được như thế này, lúc đó có hối cũng không kịp. Trà Lớ như người lạc trong rừng, càng đi càng không thấy lối. Chàng một mực xua nàng ra khỏi nhà.
Nàng lặng lẽ múc nước đổ vào cối giã gạo. Bỗng nhiên một cột nước vụt lên cao. Căn nhà nghiêng ngả, kêu răng rắc, rồi trong nháy mắt cả khu nhà biến thành một cái ao sâu.
Người con gái đứng giữa ao, miệng lẩm nhẩm, tay vẫy vẫy. Người giúp việc ùa chạy xuống ao, biến mất. Rồi trâu, bò, ngựa, gà, lợn cũng biến theo.
Trà Lớ hoảng sợ. Chàng chỉ còn kịp giật chiếc khăn trắng trên đầu, chạy theo con trâu gầy đi sau cùng, buộc vào cổ nó rồi kéo lại. Chỉ một thoáng sau, cả cô gái và ngôi nhà đều không còn nữa. Bên bờ chỉ còn một con trâu gầy, cổ quấn chiếc khăn trắng.
Trà Lớ khóc lóc vật vã. Người vợ đẹp và của cải không bao giờ trở lại nữa. Bọn xú cà kéo nhau tới cười mỉa. Bụng Trà Lớ cay hơn xát ớt. Chàng buồn đến quên cả ăn, rồi hóa thành một con thạch sùng bám trên vách.
Ngày nay thạch sùng vẫn tắc lưỡi trên vách nhà. Người Hà Nhì kể rằng nó tắc lưỡi vì tiếc người vợ và cơ nghiệp đã mất, chỉ vì trót nghe lời bọn xú cà.
Và từ đó, dưới cổ con trâu có một vết trắng. Đó chính là chiếc khăn Trà Lớ dùng giữ con trâu lại, lâu ngày quá nên dính liền vào da.
Con trâu ấy là thứ duy nhất còn ở lại với người. Và đến hôm nay, con trâu vẫn theo người ra ruộng, lội bùn trên những thửa ruộng bậc thang cao nhất. Cho nên hôm nào ra ruộng, thấy một con trâu đứng nghỉ, cứ nhìn xuống cổ nó mà xem. Cái vết trắng vẫn nằm đấy, vắt ngang, cũ như câu chuyện. Và cả nhà nói với nó một tiếng cảm ơn.