Tấm Cám
Trên một cành cây cao hơn đầu người, chỉ có đúng một quả thị vàng óng treo lơ lửng. Thơm đến nỗi cả con đường đều nhận ra. Ánh nắng chiều cuối hè xiên qua vòm lá xanh mát, chiếu vào quả thị như chiếu vào một ngọn đèn nhỏ. Đó là hình ảnh mà người Việt mình nhớ mãi khi kể đến Tấm Cám, cả nhà ạ, câu chuyện cổ tích kinh điển nhất của ông bà ta. Câu chuyện ấy không bắt đầu từ quả thị, nhưng nó tìm đến quả thị như là nơi trú ngụ cuối cùng trước khi ánh sáng trở lại.
Đây là truyện cổ tích, cả nhà nhé, chuyện xưa ông bà kể từ đời này sang đời khác. Nhà folklore học Nguyễn Đổng Chi đã sưu tầm và chép nó thành truyện số bốn mươi chín trong bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, bộ sách ghi lại kho báu dân gian của cả nước.
Ngày xửa ngày xưa, có một cô gái tên Tấm sống với cha. Mẹ Tấm mất sớm, cha lấy vợ kế. Người dì ghẻ sinh được một cô con gái đặt tên là Cám. Rồi cha Tấm cũng qua đời, Tấm ở lại với dì ghẻ và Cám từ đó. Tấm hiền lành, chăm chỉ, việc gì trong nhà cũng làm. Cám thì ngược lại, lười biếng, được mẹ cưng chiều đủ điều.
Một hôm, dì ghẻ đưa cho hai chị em mỗi người một cái giỏ, sai đi mò tôm tép ngoài đồng. Dì hứa đứa nào bắt được đầy giỏ thì được thưởng cái yếm đỏ. Tấm cần mẫn lội ruộng từ sáng đến chiều, giỏ nặng căng, tay chân bết bùn ao. Còn Cám thì mải chơi, chẳng bắt được bao nhiêu. Buổi chiều khi hai chị em gặp nhau trên bờ, Cám nói dối Tấm rằng tóc Tấm có sâu, bảo Tấm lội xuống gội đầu cho sạch. Tấm tin, bước xuống nước. Cám liền đổ hết tôm cá trong giỏ Tấm sang giỏ mình rồi chạy về trước. Tấm lên bờ, giỏ trống không, òa khóc một mình bên ruộng vắng.
Lúc ấy, Bụt hiện ra. Bụt là vị thần phù trợ hiền lành trong truyện cổ tích Việt Nam, tên Bụt là từ chữ Phật mà ra, một nét tâm linh dịu dàng mà riêng có của người Việt xưa. Bụt nhẹ giọng hỏi Tấm vì sao khóc. Tấm kể hết. Bụt bảo Tấm nhìn lại trong giỏ. Còn sót lại một con cá bống nhỏ xíu, đang quẫy trong vũng nước. Bụt dặn Tấm đem cá bống về thả vào giếng, ngày ngày cho ăn, và mỗi bữa gọi khẽ bằng câu: "Bống bống bang bang, lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta."
Tấm về nhà làm đúng lời Bụt dặn. Ngày nào cũng vậy, Tấm ra giếng gọi, cá bống nổi lên ăn từng hạt cơm. Một người trên bờ, một người dưới nước, cũng như hai chị em thân thiết.
Rồi dì ghẻ để ý, phát hiện ra. Dì sai Cám đi chăn trâu ở cánh đồng thật xa để Tấm không ngờ, rồi dì tự mình ra giếng, giả giọng Tấm gọi cá bống lên. Cá bống tin, nổi lên. Dì bắt đem về giết thịt nấu ăn. Buổi chiều Tấm về gọi mãi, chỉ nghe tiếng gió qua giếng, không thấy bống đâu. Tấm lại khóc, lần này khóc lặng hơn, đau hơn. Bụt lại hiện ra, lần này giọng thật khẽ và ấm như tiếng gió ven giếng. Bụt bảo Tấm tìm xương cá, nhặt cho đủ, bỏ vào bốn cái hũ nhỏ, đem chôn xuống dưới bốn chân giường nằm. Tấm làm theo.
Ít lâu sau, trong vương quốc có lễ hội lớn. Vua mở hội cho dân khắp nơi về dự. Dì ghẻ cũng muốn dẫn Cám đi. Nhưng trước khi ra đi, dì đổ một đấu thóc lẫn với gạo, giao cho Tấm, bảo rằng nhặt xong mới được đi chơi. Đấu thóc lẫn gạo ấy nhặt đến bao giờ mới xong. Tấm ngồi khóc. Bụt lại hiện, giọng vui và nhẹ hơn cả hai lần trước. Bụt gọi đàn chim sẻ xuống, chỉ trong chớp mắt đàn chim sẻ nhặt xong sạch sẽ từng hạt. Tấm mở bốn cái hũ dưới chân giường, và kỳ lạ thay, trong đó ra quần áo thêu đẹp, hài thêu lộng lẫy, ánh thêu sáng như rạng đông, có cả ngựa để đi. Tấm mặc vào, cưỡi ngựa đi hội.
Trên đường đến lễ hội, Tấm phải qua một cái cầu nhỏ bắc qua con lạch trong. Giữa cầu, một chiếc hài của Tấm bất ngờ rơi xuống dòng nước bên dưới. Tấm nhìn theo ánh thêu lóng lánh chìm dần, không lấy lại được, đành tiếp tục đi với một chiếc hài còn lại.
Chiếc hài trôi xuôi, vào đến tay vua. Vua ngắm nhìn chiếc hài nhỏ xinh, thêu tỉ mỉ đến lạ, ra lệnh cho quân cận vệ: hễ ai đi vừa chiếc hài này thì sẽ được rước vào cung làm hoàng hậu. Dân làng lần lượt thử, không ai vừa. Đến lượt Tấm thử, chiếc hài vào vừa như in. Tấm trở thành hoàng hậu và theo vua về cung.
Thời gian trôi qua. Tấm sống sung sướng trong cung. Nhưng rồi đến ngày giỗ cha, Tấm xin phép vua về nhà để cúng. Dì ghẻ đón Tấm bằng vẻ mặt ngọt ngào. Trong lúc cúng, dì bảo Tấm leo lên cây cau cao trong vườn hái một buồng cau đẹp để bày mâm. Tấm vâng lời trèo lên. Dưới gốc, dì ghẻ vung rìu chặt mạnh vào gốc cây. Cây đổ, Tấm rơi xuống ao sâu và mất đi.
Cám được dì ghẻ đưa vào cung thay chỗ Tấm. Vua tưởng Cám là Tấm, chấp nhận, không hay biết gì.
Nhưng Tấm chưa mất thật. Từ nơi ấy, Tấm hóa thành một con chim vàng anh. Lông vàng như nắng buổi sáng, tiếng hót mỏng như sợi tơ vàng vắt ngang khoảng trời. Chim bay thẳng vào vườn cung, đậu ngay bên chiếc áo long bào của vua đang phơi trong nắng, cất tiếng hót nhẹ tựa tiếng gọi. Vua thương con chim lạ, ngày nào cũng ra ngồi nghe, lòng cứ bâng khuâng không lý giải được. Cám nhìn thấy, ghen tức. Theo lời dì ghẻ mách, Cám bẫy bắt chim vàng anh, vặt lông làm thịt ăn.
Tấm vẫn chưa mất. Ở chỗ lông chim bị vứt ra vườn, mọc lên một cái cây xoan đào xanh tốt. Cành lá sum suê, bóng mát rộng đủ để vua mắc võng nằm nghỉ. Vua nằm ngửa nhìn lên tán lá, nghe gió vi vu qua từng nhánh, lòng lại thấy nhẹ nhõm lạ thường, như có ai quen đang ở bên. Cám lại ghen. Dì ghẻ lại mách. Cám sai người chặt cây xoan đào, lấy gỗ đem về đóng thành khung cửi.
Nhưng mỗi lần Cám ngồi vào khung cửi dệt vải, từ trong từng thớ gỗ vẳng lên tiếng cót két lạ, kéo dài và buồn như tiếng than thở, nghe như lời nhắc nhở không cách nào bịt tai được. Cám hoảng sợ, đốt khung cửi thành tro, đem tro đổ ra tận ngoài vườn xa.
Từ đống tro ấy, âm thầm mọc lên một cây thị. Cây lớn nhanh, ra hoa, đậu quả. Nhưng trên cả cây chỉ có một quả thị duy nhất. Trái vàng óng, thơm ngát, lúc lắc nhẹ nhàng trên cành cao như đang mời gọi ai đó đủ kiên nhẫn mà chú ý.
Bên đường cạnh khu vườn ấy có một bà lão bán nước. Bà hiền lành, sống một mình. Một hôm bà đi ngang qua gốc cây thị, thấy quả thị vàng treo một mình trên cành cao, bà dừng lại. Mùi thị lan xuống nhẹ nhàng, ngọt và ấm như mùi nắng mùa hè. Bà nhìn lên và khẽ nói: "Thị ơi thị rụng bị bà. Bà để bà ngửi chứ bà không ăn." Quả thị rơi nhẹ xuống ngay vào tay bà. Bà lão mang về, để lên bàn. Mỗi ngày bà cúi xuống ngửi một lần, mỉm cười với mùi thơm hiền hậu ấy, lòng thấy ấm hơn khi ở một mình.
Từ hôm đó, mỗi sáng khi bà lão ra chợ bán hàng, trở về thì nhà cửa đã được quét dọn gọn gàng, bữa cơm đã nấu xong, và trên chiếc mâm nhỏ, những miếng trầu được têm cánh phượng khéo léo đến nỗi bà lão phải đứng nhìn thật lâu. Bà lão không hiểu, vừa mừng vừa lạ. Một hôm bà ra chợ, rồi lại quay về thật sớm, nấp vào góc khuất nhìn vào nhà. Bà thấy từ trong quả thị bước ra một cô gái trẻ trung xinh đẹp, bắt đầu quét nhà, nấu cơm, tay thoăn thoắt têm từng miếng trầu cánh phượng. Bà lão bước tới nhẹ nhàng, xé bỏ cái vỏ thị đi. Cô gái không còn chỗ để chui vào, đành ở lại. Đó chính là Tấm. Hai bà cháu nhận nhau, sống cùng nhau từ đó.
Không lâu sau, đoàn vua đi kinh lý ngang qua. Vua ghé vào quán bà lão uống nước nghỉ chân. Bà lão bưng ra dĩa trầu đã được têm sẵn mời vua. Vua cầm miếng trầu lên, nhìn ngắm. Miếng trầu được têm theo kiểu cánh phượng, khéo léo lạ thường, y hệt cách têm trầu của hoàng hậu Tấm ngày xưa. Lòng vua bỗng nhiên xao động, bàn tay khẽ dừng lại. Vua hỏi bà lão ai têm miếng trầu này. Bà lão vào gọi Tấm ra. Nhìn thấy Tấm, vua nhận ra ngay người vợ cũ. Tấm được rước trở lại cung, trở thành hoàng hậu như xưa.
Khi tin Tấm trở về cung lan ra, Cám xấu hổ và lo sợ. Cám tìm đến Tấm, hỏi nhỏ rằng làm thế nào mà chị trở nên xinh đẹp thế. Tấm bình thản trả lời. Cám làm theo lời Tấm. Nhưng Cám không biết rằng đó là hậu quả tất yếu của những điều mình đã gây ra, của lòng tham, sự dối trá và những oan khiên chồng chất theo năm tháng. Từ đó, không ai thấy Cám nữa. Dì ghẻ cũng chẳng còn làm hại được ai.
Cả nhà ơi, người Việt mình kể câu chuyện Tấm Cám không chỉ để nhớ những lần Tấm hóa thân qua bao gian nan. Người ta kể để nhắc nhau rằng lòng hiền lành và sự bền bỉ rồi sẽ tìm được đường trở về. Như quả thị vàng trên cây, chỉ một trái duy nhất nhưng thơm ngát cả khoảng trời. Như nụ cười của Tấm khi bước ra khỏi vỏ thị, nhẹ nhàng và ấm áp, rực sáng sau bao nhiêu đêm dài tối tăm.