Tháp Khương Mỹ
Ba ngọn tháp đứng trên một gò đất thấp, nhìn thấy từ xa.
Không phải rừng sâu, không phải vách núi. Chỉ là một gò đất thấp ở xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng, cách Quốc lộ một chừng hai trăm mét về phía tây. Ba ngọn tháp gạch đỏ đứng thẳng hàng theo trục bắc nam, cả ba quay mặt về phía đông.
Tháp Nam là tháp lớn nhất. Tháp Bắc nhỏ nhất. Tháp Giữa vừa vừa ở giữa.
Đứa trẻ đi thẳng đến tháp Nam. Ở chân tháp có những tấm đá sa thạch chạm khắc chạy dọc theo tường. Những hình người. Những con vật. Những cảnh tượng liên tiếp nhau như các trang trong một cuốn sách.
Đứa trẻ đứng nhìn. Không nói gì. Rồi quay sang hỏi: "Họ đang làm gì vậy?"
Đó là câu hỏi đúng nhất có thể hỏi ở đây. Vì người thợ Chăm xây những tháp này vào cuối thế kỷ chín đến đầu thế kỷ mười không chỉ xây một nơi thờ phụng. Họ xây một câu chuyện.
Những tấm phù điêu chạy dọc chân tháp Nam kể lại các cảnh trong Ramayana, bộ sử thi cổ của Ấn Độ. Không phải vẽ. Không phải viết. Là khắc vào đá sa thạch, sâu và bền, từng cảnh một. Hai nhà nghiên cứu Trần Kỳ Phương và Nguyễn Tú Anh gọi đây là phong cách điêu khắc kể chuyện, tức là dùng đá để kể một câu chuyện.
Nghĩa là mỗi tấm đá là một chương. Mỗi cảnh điêu khắc là một trang sách.
Và để người xem không bị lẫn lộn giữa cảnh này và cảnh kia, người thợ Chăm dùng một thứ dấu hiệu riêng. Giữa mỗi cảnh là một dải hoa dây leo chạm nổi, uốn lượn đều đặn. Không phải trang trí thêm cho đẹp. Đó là dấu ngắt câu, giống dấu chấm giữa hai câu văn, để người xem biết: cảnh này kết thúc, cảnh mới bắt đầu.
Một ngàn năm trước khi có truyện tranh, người Chăm đã kể chuyện theo cách đó.
Trên những phiến đá ấy có cảnh con nai vàng đang quyến rũ Sita, cảnh Sita bị giam cầm trên đảo Lanka, đoàn quân khỉ của Hanuman đang xây cầu đá vượt biển. Và một cảnh đặc biệt hơn tất cả: cảnh Ravana đối mặt Sita trong vườn Ashoka, một vị vua mười đầu đứng trước một người phụ nữ không cúi đầu.
Nhà nghiên cứu Trần Kỳ Phương cho rằng đây là tác phẩm điêu khắc duy nhất thể hiện cảnh này trong toàn bộ nghệ thuật tạo hình ở Đông Nam Á và Nam Á. Trên bức tường sa thạch của tháp Nam Khương Mỹ, người thợ Chăm đã chọn khắc đúng khoảnh khắc ấy.
Cả nhà nhìn lại những con khỉ kia đi. Quanh chân tháp Nam có cả một dãy phiến đá chạm cảnh đàn khỉ, con nào cũng sống động. Đứa trẻ đứng nhìn, và cười. Ngôi tháp này cũng từng đi vào trang sách học trò: tác giả Lam Linh viết về Khương Mỹ trong một bài văn được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn lớp sáu.
Người thợ Chăm biết Ramayana thuộc lòng. Và họ kể lại câu chuyện đó không bằng lời, mà bằng búa và đục, bằng đá sa thạch.
Khương Mỹ còn đặc biệt ở chỗ khác. Hầu hết tháp Chăm thờ thần Shiva, vị thần của sự phá huỷ và tái sinh. Nhưng một số nhà nghiên cứu cho rằng Khương Mỹ thờ Vishnu, vị thần bảo hộ, người giữ cho thế giới không sụp đổ. Trong các đợt khai quật, người ta tìm thấy tượng điêu khắc liên quan đến Vishnu nhưng không có tượng Brahma hay Shiva. Và Rama, người hùng trong Ramayana, chính là hóa thân của Vishnu xuống trần. Có lẽ vì vậy mà câu chuyện ấy có mặt trên tường tháp.
Cả ba tháp mang phong cách Khương Mỹ, một phong cách chuyển tiếp giữa Đồng Dương mạnh mẽ và Trà Kiệu thanh thoát. Không hoàn toàn là cái này, không hoàn toàn là cái kia.
Từ năm hai nghìn không trăm lẻ bảy đến năm hai nghìn không trăm lẻ tám, các nhà khảo cổ khai quật quanh tháp và phát lộ một trăm hai mươi bốn hiện vật, có cả tượng rắn Naga, khỉ, ngựa và voi. Khương Mỹ còn để lại một tượng Vishnu bốn tay. Bốn tay, bốn hướng, như một vị thần đang ôm trọn cả bầu trời. Tượng đó nay ở Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Phần lớn những tác phẩm điêu khắc tìm được ở Khương Mỹ từ thời trước nay ở Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, mỗi hiện vật là một mảnh của câu chuyện người Chăm còn dang dở.
Năm một nghìn chín trăm tám mươi chín, nhà nước công nhận Khương Mỹ là Di tích kiến trúc và nghệ thuật cấp quốc gia, một tên gọi chính thức cho điều mà ai đứng trước bức tường đá cũng đã tự biết.
Trước khi có sách in, trước khi có chữ viết phổ thông, đã có đá. Và những người thợ Chăm đã mời người đời sau bước vào câu chuyện của họ bằng búa và đục, bằng từng vết chạm sâu vào sa thạch, để một nghìn năm sau một đứa trẻ đứng ở đây và hỏi: họ đang làm gì vậy?
Và cả nhà sẽ có câu trả lời.