Tháp nước Hàng Đậu
Ngã sáu phía bắc phố cổ Hà Nội luôn rộn rã. Xe máy nối nhau từ Phan Đình Phùng đổ xuống Hàng Đậu. Người bán hàng rong đi qua phố Hàng Giấy. Và giữa nhịp sống ấy, một khối đá xám đứng lặng giữa ngã sáu. Thân tháp tròn, tường đá hộc thô ráp, mái chóp nón, bóng cây sấu in lên thành đá.
Đó là Tháp nước Hàng Đậu.
Theo Bảo tàng Hà Nội, tháp được người Pháp xây dựng năm một nghìn tám trăm chín mươi tư. Đây là công trình chứa và phân phối nước sạch quy mô đầu tiên ở Hà Nội thời thuộc địa. Cuối thế kỷ mười chín, thành phố chứng kiến nhiều đợt dịch bệnh liên quan đến nguồn nước, vì vậy người Pháp đầu tư hệ thống cấp nước Yên Phụ, và Tháp nước Hàng Đậu là điểm chứa lớn trong tuyến phân phối.
Báo Hànộimới dẫn tài liệu địa phương cho biết nước được bơm từ nhà máy nước Yên Phụ lên tháp, rồi toả đi theo các tuyến ống. Ban đầu hệ thống chủ yếu phục vụ chính quyền và quân đội Pháp, phần nước dư mới đến với cư dân phố cổ. Đó là dấu mốc Hà Nội bắt đầu có nước máy chảy trong ống.
Nhìn kỹ kiến trúc, cả nhà sẽ thấy nhiều chi tiết đáng chú ý. Thân tháp có dạng hình trụ tròn, xây bằng đá hộc, đường kính khoảng mười chín mét. Tháp cao ba tầng, mái chóp nón ở trên cùng. Dung tích bể chứa khoảng một nghìn hai trăm năm mươi mét khối. Tường đá rất dày, có những ô cửa nhỏ và cao như lỗ châu mai để lấy sáng và thông khí.
Một chi tiết đặc biệt mà Báo Hànộimới ghi lại: đá dùng xây tháp lấy từ tường thành cổ Hà Nội đã bị phá dỡ. Vì vậy khối tháp hôm nay vẫn mang trong mình những viên đá từng là một phần của thành cũ. Hai lớp lịch sử nối liền trong cùng một bức tường. Cũng vì hình dáng to, dày và kín, người Hà Nội xưa quen gọi nơi này là "bốt Hàng Đậu", một cách gọi dựa trên hình dáng, không phải chức năng quân sự.
Thông tấn xã Việt Nam mô tả tháp nằm tại điểm giao của sáu tuyến phố: Hàng Đậu, Hàng Cót, Hàng Giấy, Hàng Than, Quán Thánh và đường Phan Đình Phùng, vùng giáp ranh hai quận Ba Đình và Hoàn Kiếm. Đứng ở đây, theo hướng nam là khu phố cổ Đồng Xuân, Hàng Mã; theo hướng đông là Cầu Long Biên; theo hướng tây là trục Phan Đình Phùng với hàng cây cổ thụ. Mỗi hướng đổ về tháp một dòng chảy riêng, và khối đá xám kia đứng điềm tĩnh ở tâm điểm đó suốt hơn một thế kỷ.
Khoảng năm một nghìn chín trăm sáu mươi, tháp ngừng hoạt động cấp nước khi công nghệ hiện đại thay thế hệ thống cũ. Trong nhiều thập kỷ sau đó, cánh cửa tháp đóng kín.
Tháng mười một năm hai nghìn hai mươi ba, mọi chuyện thay đổi. Trong Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội năm hai nghìn hai mươi ba, tháp lần đầu mở cửa cho công chúng với pavillon nghệ thuật mang tên Sắp đặt nước và di sản tháp nước Hàng Đậu. Tạp chí Kiến trúc cho biết tác phẩm do kiến trúc sư Cao Thế Anh và hoạ sĩ Nguyễn Đức Phương thực hiện, sử dụng âm thanh, ánh sáng và vật liệu tái chế từ rác đô thị, gợi lại mối quan hệ giữa con người và nước.
Vòng quanh ngã sáu, đứng cạnh khối đá tròn giữa dòng xe, nhìn lên mái chóp nón trổ trên nền trời, người ta hiểu tại sao không ai dời tháp đi bao giờ.
Hơn một trăm ba mươi năm đã trôi qua kể từ ngày những viên đá đầu tiên đặt lên móng. Thành phố đã mở rộng gấp nhiều lần. Nhưng khối đá tròn giữa ngã sáu Hàng Đậu vẫn đứng đó, mang trong mình đá của thành cũ, nước của thành mới, và ký ức của tất cả những người đã đi qua nơi này.