Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Tò he làng Xuân La: từ bánh chim cò đến đồ chơi Trung thu

0:000:00

Con muốn con gì nào?

Con gà ạ! Cậu bé đứng nép bên mẹ, trả lời không chút ngập ngừng. Bác thợ tò he cười, mở chiếc hộp nhỏ đặt trên đùi. Sáng cuối tuần ấy, bác ngồi bên Hồ Gươm, ngay phía trước đền Ngọc Sơn. Trong hộp có mấy cục bột màu, một chiếc lược con, một bó que tre và một ít sáp ong. Đồ nghề của người nặn tò he chỉ gọn trong chừng ấy.

Bác nặn cái mình trước. Bác véo ra một miếng bột đỏ, lăn qua lăn lại thành một cái mình tròn căng. Rồi bác véo thêm một viên bột vàng làm cái đầu, có chiếc mỏ nhỏ xinh. Sau cùng mới đến đôi chân, thêm mấy vệt xanh, vệt đen điểm lên cánh, thế là xong. Chỉ trong vài phút, con gà đã đứng trên đầu que tre. Con gà đỏ rực, đầu vàng tươi. Dân làm tò he có câu: nhất đỏ, nhì vàng. Con nào nhiều sắc đỏ, sắc vàng thì con ấy tươi tắn, bắt mắt hơn cả. Mẹ cậu bé đỡ lấy que tre, và con gà theo hai mẹ con đi tiếp.

Quê bác thợ là làng Xuân La, thuộc xã Phượng Dực, ở phía nam Hà Nội, ngay ven sông Nhuệ. Người ta gọi Xuân La là cái nôi của tò he. Nhiều người bảo, cả nước giờ chỉ còn làng ấy giữ nghề nặn tò he theo lối cha truyền con nối.

Ở làng bác, người già, người trẻ, cả trẻ nhỏ đều có người biết nặn. Người làng còn mở lớp dạy trẻ con nặn tò he. Hỏi nghề ấy có từ bao giờ, các cụ trong làng bảo hơn ba trăm năm, cũng có người bảo còn xa hơn nữa. Chưa ai tìm được trang giấy nào ghi lại ngày nghề ấy bắt đầu.

Bột trong hộp là bột bác làm sẵn ở nhà, trong làng. Bác trộn gạo tẻ với gạo nếp, đem ngâm nước, rồi xay thật nhuyễn. Bột xay xong, bác bắc lên bếp đun cho chín, rồi nhào thật nhanh tay. Bác pha gạo khác nhau theo mùa: mùa đông, bột cần dẻo hơn mùa hè. Nhào xong, bác chia khối bột thành từng phần, nhuộm mỗi phần một màu, chừa lại một ít bột trắng.

Thuở trước, sắc màu của tò he đều mượn từ cây cỏ. Đỏ thì lấy từ quả gấc, vàng từ hoa hòe, xanh từ lá cây. Màu đen, có người bảo làm từ than tre, có người bảo làm từ cây nhọ nồi. Riêng màu trắng chẳng cần nhuộm, vì đó là màu của chính hạt gạo. Đỏ, vàng, xanh, đen là bốn màu gốc. Mọi màu khác đều pha ra từ bốn màu ấy.

Gần trưa, khách ghé đông dần. Một cô bé xin Tôn Ngộ Không. Đứng xem bác nặn hình người, cả nhà sẽ nhận ra thứ tự đã đổi khác: đôi chân trước, rồi cái mình, rồi mới đến cái đầu. Bác cầm chiếc lược con, khẽ chải mấy nét tóc lên cái đầu bột. Thế là Tôn Ngộ Không đứng lên que tre, và bố cô bé cầm lấy que, giơ cao cho con gái ngắm. Sau cô bé, có em đòi một con trong mười hai con giáp, có em đòi Trư Bát Giới, có em đòi một nhân vật hoạt hình. Ai muốn con gì, bác nặn con ấy, ngay tại chỗ.

Đầu giờ chiều, đến lượt một cậu bé muốn có con trâu. Bác vuốt cho đôi sừng cong cong trên cái đầu trâu, rồi cắm con trâu lên que tre. Ngày trước, người thợ còn gắn con tò he vào những chiếc vòng tre, mãi về sau mới cắm lên que. Con trâu nằm gọn trong tay người bố, theo hai bố con đi xa dần.

Con trâu là một trong những hình quen thuộc của tò he xưa. Nhiều người kể, những con tò he đầu tiên có hình con chim, con cò. Bên cạnh con trâu, tò he xưa còn có chim công, có gà, có lợn và cá. Thuở ấy, người làng còn nặn cả buồng chuối, quả cau, mâm xôi bằng bột để bày lên mâm cúng. Rồi họ nặn chú bé thổi sáo trên lưng trâu, nặn cô gái làng, nặn Thánh Gióng cưỡi ngựa nhổ tre. Sơn Tinh, rồi các nàng công chúa cũng hiện ra từ những cục bột.

Trên mâm cỗ Trung thu ngày ấy, người lớn bày cả tò he. Trẻ chơi xong thì người lớn đem hấp lại mà ăn. Có điều, tò he xưa không để được lâu. Để lâu, bột khô lại, nứt ra, có khi lên mốc.

Một người bố bế em bé tới, hỏi mua một con cá. Cái đuôi cá xòe ra dưới mấy ngón tay bác, và người bố đón lấy que tre có con cá.

Người làm tò he ngày xưa không ngồi yên một chỗ như bác hôm nay. Họ nặn vào lúc ruộng đồng vơi việc, nhiều nhất là trong ba tháng mùa lễ hội. Từ phiên chợ quê này, họ sang phiên chợ quê khác, theo các hội làng khắp đồng bằng Bắc Bộ. Bột nặn thì họ sửa soạn ngay trong chuyến đi. Dần dần, tò he Xuân La có mặt từ Bắc vào Nam. Bây giờ, người thợ tò he hay ngồi ở cổng trường, ở góc công viên hay trên phố đi bộ. Trong năm, người thợ bận rộn nhất vào dịp Tết và dịp Trung thu. Trung thu vẫn là mùa người làng nặn nhiều hơn cả.

Một em bé khác muốn một con lợn. Bác lăn cái mình lợn tròn vo. Mẹ em đỡ lấy que tre, con lợn nằm ngoan trên đầu que.

Vì sao người xưa lại nặn tò he? Có người kể, trẻ con quanh vùng xưa kia thiếu đồ chơi, nên người làng nặn bột cho các em. Lại có người kể, thoạt đầu người ta nặn chim cò bằng đất rồi đem nung, mãi sau mới đổi sang bột nếp để đồ chơi ngày ấy chơi xong còn ăn được. Cũng có lời kể rằng lúc đầu tò he là đồ cúng, lễ xong mới đem cho trẻ con.

Người làm nghề như bác còn gọi tò he bằng một cái tên mộc mạc: con giống bột. Còn cái tên tò he, mỗi người lại giải thích một kiểu. Có người nói, ngày xưa trên con tò he có gắn chiếc còi nhỏ bằng ống tre, thổi lên kêu tò te, rồi gọi chệch thành tò he. Người khác lại nói thuở đầu người ta chỉ nặn con thỏ thổi kèn, kèn kêu toe toe, mà thành ra cái tên ấy.

Có những con giống bột đã đi rất xa. Ở mấy bảo tàng bên Pháp, người ta vẫn còn giữ những con nặn từ hơn một trăm năm trước, có ghi là đồ chơi Trung thu của Hà Nội. Có lần, ở Hà Nội, thợ tò he từ nhiều vùng đã nặn lại theo những mẫu xưa ấy, bày cho mọi người cùng xem.

Cục đỏ và cục vàng đã nhỏ đi trông thấy. Khách đã về hết. Bác gom chỗ que tre còn lại, xếp mấy cục bột màu vào hộp. Dưới đáy hộp còn sót một nhúm bột trắng, chưa nhuộm chút gì.

Bác vê nhúm bột ấy thành con cuối cùng trong ngày. Bác nặn cái mình thon thả trước, rồi đến cái đầu nhỏ trên chiếc cổ dài, sau cùng là đôi chân cao và mảnh. Một con cò trắng đã thành hình.

Câu chuyện liên quan