Chuyen.AIPlaylist
Hàn Quốc

Trận chung kết trong tuyết ở Thường Châu

0:000:00

Tuyết rơi xuống mặt cỏ rồi nằm lại đó, không chịu tan.

Một cầu thủ áo đỏ quỳ xuống, đưa bàn tay trần gạt lớp tuyết sang bên. Gạt một lần chưa đủ. Anh gạt thêm lần nữa, rồi lần nữa, cho tới khi dưới lớp trắng hiện ra một khoảng cỏ sẫm màu, bé bằng hai bàn tay. Vừa đủ chỗ đặt quả bóng xuống cho nó chịu đứng yên.

Mấy người đồng đội cũng cúi xuống làm cùng anh. Không ai đeo găng. Những ngón tay đỏ lên vì lạnh.

Cách đó chừng mươi bước chân, một hàng người đứng sát vai nhau, chắn giữa quả bóng và khung thành. Tuyết đọng trên vai họ, trên tóc họ, và trên cả những đường kẻ vôi mà lúc này gần như không còn nhìn thấy nữa.

Hãy giữ khoảnh khắc đó lại một lát. Bởi để đi được tới chỗ này, người ta đã phải đi một quãng đường rất dài.

Buổi chiều hôm ấy là ngày hai mươi bảy tháng một năm hai nghìn không trăm mười tám. Sân đấu nằm trong Trung tâm Thể thao Olympic ở Thường Châu, bên Trung Quốc. Nhiệt độ ngoài trời quanh quẩn mức không độ, tuyết rơi dày suốt trận, vậy mà bóng vẫn lăn đúng giờ đã định. Đây là trận chung kết giải bóng đá trẻ châu Á lứa tuổi dưới hai mươi ba, giữa đội Việt Nam và đội Uzbekistan.

Phần lớn những chàng trai áo đỏ hôm ấy lớn lên ở một xứ quanh năm không có tuyết.

Người đứng ngoài đường biên chỉ đạo họ là một ông thầy người Hàn Quốc, tên là Park Hang-seo. Ông nhận việc ở Việt Nam vào mùa thu năm hai nghìn không trăm mười bảy, nghĩa là chỉ mới vài tháng trước trận đấu này.

Trước đó rất lâu, ông đã có một mùa hè đặc biệt ngay tại quê nhà. Năm hai nghìn lẻ hai, khi Hàn Quốc đăng cai World Cup, ông là một trong hai trợ lý của huấn luyện viên trưởng Guus Hiddink, người Hà Lan. Đội Hàn Quốc năm ấy đi tới tận bán kết. Việc của ông Park khi đó là làm cây cầu nối giữa một ông thầy ngoại quốc và những cầu thủ trong nước.

Mười lăm năm sau, ông sang một đất nước khác, và lần này chính ông là người ngoại quốc.

Ông từng nói rằng điều lớn nhất học được từ người thầy cũ không phải là chiến thuật, mà là phải hiểu đất nước mình đang làm việc, hiểu văn hóa của nó, hiểu cách những cầu thủ ở đó phản ứng. Sang Việt Nam, ông làm đúng việc ấy trước tiên.

Giải đấu năm đó khởi đầu chẳng dễ chịu gì. Trận ra quân, đội trẻ Việt Nam gặp đúng đội trẻ Hàn Quốc, quê hương ông thầy của mình, và thua. Sau đó là một trận thắng một không trước Australia, rồi một trận hòa với Syria. Vừa đủ để lọt qua vòng bảng với vị trí nhì bảng.

Tứ kết gặp Iraq. Hai đội rượt đuổi nhau tới tận hiệp phụ, hòa ba đều, rồi phải phân định trên chấm luân lưu. Việt Nam thắng, năm quả so với ba.

Bán kết gặp Qatar. Lại hòa, lần này hai đều, và lại luân lưu. Thủ môn Bùi Tiến Dũng cản được hai quả sút. Việt Nam thắng bốn quả so với ba, và lần đầu tiên trong lịch sử có mặt ở trận chung kết một giải đấu của cả châu lục.

Rồi tới Thường Châu, và tới tuyết.

Trận chung kết mở màn không thuận. Mới phút thứ tám, từ một quả phạt góc, một cầu thủ Uzbekistan bật cao đánh đầu, và bóng nằm gọn trong lưới. Tuyết mỗi lúc một dày thêm. Bóng lăn trên sân cứ khựng lại giữa chừng, đường chuyền nào cũng ngắn hơn ý người chuyền.

Rồi tới phút bốn mươi mốt.

Việt Nam được hưởng một quả đá phạt ngay sát vòng cấm địa. Và đó chính là lúc mấy đôi bàn tay trần quỳ xuống gạt tuyết, dọn lấy khoảng cỏ bé bằng hai bàn tay.

Người đặt chân vào quả bóng ấy là Nguyễn Quang Hải, khi đó hai mươi tuổi. Bóng bay lên, vòng qua đầu hàng rào chắn, rồi cong xuống chui vào lưới. Cả một mặt sân trắng xóa, chỉ có duy nhất một đường bóng cong vẽ ngang qua.

Người ta gọi bàn thắng đó là Cầu vồng trong tuyết. Một đều.

Nhiều năm sau, khi được hỏi về nó, Quang Hải nói một câu đáng nhớ. Anh bảo bàn thắng ấy không phải của riêng anh, vì nó chỉ có được nhờ những người đồng đội đã lấy tay dọn tuyết quanh quả bóng.

Sang hiệp hai, trận đấu phải chờ. Người ta ra dọn bớt lớp tuyết đang phủ kín mặt sân rồi mới cho bóng lăn tiếp. Hết chín mươi phút, tỉ số vẫn là một đều. Hai đội bước vào hiệp phụ, đá thêm ba mươi phút nữa trong tuyết, với đôi chân đã nặng như đeo đá.

Và ở những phút cuối cùng của hiệp phụ, gần như là những giây cuối cùng, Uzbekistan lại ghi bàn từ một quả phạt góc.

Trận đấu khép lại: Uzbekistan hai bàn, Việt Nam một bàn. Đội trẻ Việt Nam thua, và nhận huy chương bạc.

Đây là chỗ mà câu chuyện lẽ ra phải buồn.

Nhưng hôm sau, khi đoàn quân ấy về tới Hà Nội, chuyện lại xảy ra thế này. Hàng nghìn người đứng chật hai bên đường, suốt quãng từ sân bay Nội Bài về trung tâm thành phố. Chiếc xe chở đội bò đi chậm như người đi bộ. Buổi lễ đón chính thức phải lùi lại tới năm tiếng đồng hồ, đơn giản vì đoàn xe không tài nào len qua nổi dòng người.

Không ai trong dòng người ấy đứng đó vì một chiếc cúp. Cúp thuộc về đội bạn, và điều đó chẳng có gì phải giấu đi. Họ đứng đó vì một đội bóng đã chơi hết mình cho tới giây cuối cùng, giữa một thứ thời tiết mà họ chưa từng quen.

Nhiều năm sau nữa, giải đấu ấy mở một cuộc bình chọn để tìm bàn thắng biểu tượng trong suốt chiều dài lịch sử của mình. Cú đá phạt trong tuyết thắng, với hơn một triệu lượt bình chọn, bỏ rất xa bàn thắng đứng thứ hai.

Còn ông Park thì ở lại Việt Nam thêm năm năm nữa. Cuối chính năm đó, ông cùng đội tuyển quốc gia vô địch giải Đông Nam Á. Năm sau, đội đi tới tứ kết giải vô địch châu Á. Nhưng thứ khiến người Việt nhớ ông rõ nhất, lạ thay, lại bắt đầu từ một trận thua.

Nếu có dịp xem lại đoạn phim ngắn về bàn thắng ấy, cả nhà đừng vội nhìn quả bóng. Hãy nhìn mấy bàn tay trần đang quỳ trên tuyết, gạt đi từng lớp lạnh buốt để dọn một chỗ đặt bóng cho người đồng đội của mình. Cú sút đẹp thì ai cũng thấy. Nhưng cái chỗ để đặt quả bóng ấy, là do những bàn tay kia dọn ra.

Câu chuyện gần đây