Giai thoại Trạng nguyên Nguyễn Hiền
Gần tám trăm năm nay, trong hàng dài những người đỗ trạng nguyên của nước ta, người trẻ nhất vẫn là một cậu bé mười ba tuổi. Chưa một ai phá được kỷ lục ấy. Cậu tên là Nguyễn Hiền, quê ở làng Dương A vùng Thiên Trường, nay thuộc huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Đó là chuyện sử ghi rõ ràng. Nguyễn Hiền đỗ trạng nguyên khoa thi năm Đinh Mùi, tức năm một nghìn hai trăm bốn mươi bảy, đời vua Trần Thái Tông. Khoa ấy cũng là khoa đầu tiên nước ta đặt ra tam khôi, gồm trạng nguyên, bảng nhãn và thám hoa. Đứng đầu bảng, cao nhất trong ba, lại là một đứa trẻ chưa qua tuổi mười ba. Còn quanh cái tên ấy, người xưa còn kể lại biết bao nhiêu chuyện, nghe vừa lạ vừa vui.
Người ta kể rằng Hiền mồ côi cha từ nhỏ, được gửi vào chùa Hà Dương học chữ với một vị sư. Cậu học nhanh đến lạ. Thầy giảng một lần là thuộc, đọc qua một lượt là nhớ, chữ nghĩa cứ như đã nằm sẵn trong đầu, chỉ chờ ai gọi là bật ra. Nhưng Hiền cũng nghịch ra trò. Có bận cậu lấy que viết mấy câu chữ tinh nghịch lên nền sân chùa, trêu cả thầy lẫn bạn, khiến vị sư một phen dở khóc dở cười. Mới chừng mười một tuổi, khắp vùng đã gọi cậu là thần đồng.
Điều lạ là cái đầu thông minh ấy không lớn lên trong lầu son gác tía, mà lớn lên giữa ruộng đồng. Truyền thuyết còn kể, những buổi không phải học, Hiền ra bãi đất ven đường chơi cùng lũ trẻ chăn trâu. Chúng lấy đất sét ướt nặn thành voi, thành trâu, thành đủ thứ con vật. Bàn tay lấm lem bùn đất ấy, vậy mà lại là bàn tay sau này cầm bút đứng đầu thiên hạ.
Năm mười ba tuổi, Hiền vào kinh ứng thí, rồi đỗ ngay trạng nguyên. Nhà vua mừng vì có người tài, nhưng nhìn vị tân trạng nguyên bé loắt choắt, ăn nói còn chưa rành phép tắc, vua ngẫm ngợi. Người tài thì đã rõ, nhưng lễ nghĩa của người làm quan thì cậu chưa kịp học. Thế là vua cho Hiền về quê thêm ba năm, học cho thấu cái lễ, rồi mới vời ra giúp nước. Cậu trạng nhỏ lại khăn gói về làng, về với bãi đất, với lũ bạn chăn trâu.
Ít lâu sau, trong triều xảy ra một chuyện làm bao nhiêu người lớn phải vò đầu bứt tai. Người xưa kể rằng có một sứ thần từ nước lớn phương Bắc sang, muốn dò xem nước Nam có thật lắm người tài hay không. Ông ta mang tới một vật nhỏ xíu mà hiểm hóc: một con ốc vặn, bên trong rỗng nhưng lối đi cứ uốn vòng như trôn con quay, hở cả hai đầu. Rồi ông thách cả triều đình luồn cho được một sợi chỉ mảnh, đi từ đầu này, lách qua khúc trong ngoằn ngoèo, rồi chui ra đầu kia.
Cả nhà thử hình dung xem, sợi chỉ thì mềm oặt, mà đường ruột ốc thì cong queo, vặn vòng như con đường núi. Đẩy chỉ vào chưa được một đoạn đã tắc. Các quan đại thần châu đầu vào loay hoay, người thử cách này, người thử cách nọ, mà sợi chỉ cứ chun lại, chẳng cách nào qua nổi khúc cong. Nhà vua sốt ruột, chợt nhớ tới cậu trạng nguyên nhỏ tuổi năm nào ở tận Nam Định, bèn sai một viên quan phi ngựa về làng tìm.
Viên quan về tới nơi thì thấy gì? Thấy một đám trẻ con đang chơi ngoài bãi, và ở giữa, cậu trạng nguyên của nước Nam đang ngồi xổm, tay lem luốc, mải mê nặn một con voi bằng đất. Viên quan nói rõ chuyện sứ thần và câu đố xâu chỉ, mong cậu về kinh gỡ giúp.
Hiền nghe xong chỉ cười. Cậu nhắc lại rằng chính nhà vua ngày trước đã chê cậu chưa biết lễ mà cho về học lễ. Vậy nay muốn vời cậu, xin nhà vua cũng phải cho đủ lễ, có kiệu, có lọng, có đồ đón rước đàng hoàng, chứ không thể gọi một tiếng là đi. Nói xong, cậu không theo viên quan về ngay. Nhưng cậu cũng chẳng nỡ để triều đình bí mãi. Cậu quay sang lũ bạn chăn trâu, dạy chúng hát một bài đồng dao, giọng lảnh lót vang cả bãi đất.
Bài đồng dao ấy thế này:
Tích tịch tình tang! Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng. Bên thì lấy giấy mà bưng. Bên thì bôi mỡ kiến mừng kiến sang.
Cả nhà nghe ra chưa? Nghe thì như trò chơi trẻ con, mà bên trong giấu cả một mẹo khôn. Từng câu hát chính là từng bước gỡ câu đố. Con kiến càng buộc chỉ ngang lưng, một đầu ốc lấy giấy bưng kín, đầu kia phết chút mỡ cho thơm. Kiến đánh hơi thấy mùi, thế là chịu khó lần theo lối trong mà đi tìm, sợi chỉ cứ thế bị kéo lê theo sau.
Viên quan nghe lũ trẻ hát, chợt vỡ lẽ, mừng quýnh quay ngựa về kinh. Cả triều đình xúm lại làm y theo lời hát. Con kiến nhỏ nhẫn nại lần từng khúc quanh co, hồi lâu thì ló đầu ra phía bên kia, sợi chỉ vắt vẻo bám sau, thế là xuyên trọn thân ốc. Sứ thần sững người. Ông lặn lội cả một chặng đường xa mang theo câu đố đắc ý, nào ngờ lời gỡ lại vọng ra từ một bãi chăn trâu, trong tiếng hát của mấy đứa trẻ tay còn lấm đất.
Lần này thì nhà vua hiểu ra cái lễ mà chính mình đã dạy cậu năm xưa. Vua sai sắm đủ đồ lễ, sai xe ngựa về tận làng, đón vị trạng nguyên nhỏ tuổi cho thật trọng thị. Đủ lễ rồi, Hiền mới thong thả theo về kinh. Cái lễ mà vua bắt cậu học ngày trước, nay chính cậu nhắc lại cho vua, nhẹ nhàng mà thấm.
Đó là những chuyện người xưa kể quanh cái tên Nguyễn Hiền, kể đã bao nhiêu đời. Còn điều chắc chắn có thật thì vẫn nằm đó, gọn gàng trong sử sách: một cậu bé quê Nam Định, mười ba tuổi đỗ đầu thiên hạ, giữ kỷ lục trạng nguyên trẻ nhất suốt gần tám trăm năm chưa ai vượt qua. Ở Nam Định ngày nay vẫn còn ngôi đền thờ ông, khói hương chưa bao giờ dứt. Người trong vùng tìm về, đứng trước tên vị trạng nguyên mười ba tuổi, rồi kể cho con cháu nghe chuyện cậu bé chăn trâu chẳng những đỗ đầu thiên hạ, mà còn khôn đến mức nhắc được cho chính nhà vua nhớ lại một chữ lễ. Gần tám trăm năm rồi, kỷ lục kia vẫn đứng đó, như còn chờ một đứa trẻ nào khác, lấm lem bùn đất bên đường, dám bước tới mà nhận lấy.